Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 30/01/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 77/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/01/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 30 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2019/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số nhà 29 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 29 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam N, xã L, huyện H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa, chị H có mặt, anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 08-01-2019, bản tự khai và tại phiên tòa, chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 17-12-1999 tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên khác nhau về tính cách và quan điểm sống nên hay cãi chửi nhau. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Bản thân anh T nhiều lần vi phạm pháp luật. Hiện tại anh T đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam N, tỉnh Ninh Bình về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chị có vào thăm hỏi, động viên anh T nhưng tình cảm vợ chồng rất lạnh nhạt. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị đề nghị giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hồng N, sinh ngày 01-5-2000, hiện cháu N đã trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu giải quyết về giao nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu giải quyết. Tại bản tự khai ngày 16-01-2019 bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh trình bày thống nhất với chị Vũ Thị H về điều kiện kết hôn. Về quá trình chung sống theo anh vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi anh phải đi chấp hành hình phạt tù. Nay chị H đề nghị giải quyết ly hôn anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hồng N, sinh năm 2000. Con chung đã trưởng thành nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do hiện nay anh đang bị tạm giam không thể có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết được nên anh đề nghị xét xử vắng mặt anh theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 17 tháng 12 năm 1999 tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, khác biệt nhau về tính cách và lối sống; bản thân anh Tiến vi phạm pháp luật và đang chấp hành án phạt tù đã làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Anh T cũng nhất trí ly hôn với chị Hồng.

Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; vì vậy, Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị H và anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hồng N, sinh ngày 01-5-2000. Con chung đã đủ tuổi trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được, chị H và anh T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và công nợ: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn là chị Vũ Thị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn T.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000472 ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

3. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 30/01/2019 về ly hôn

Số hiệu:77/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về