Bản án 76/2019/HNST ngày 30/09/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 76/2019/HNST NGÀY 30/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Hôm nay, ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 764/2018/TLST-HN ngày 17 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 576/2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thu T, sinh năm 1982

ĐKTT: 762 ấp Đ, xã H, huyện S, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn: Ông Đỗ Trúc L, sinh năm 1980

Địa chỉ: số 4/5 hẻm 4 T, phường K, quận K, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/9/2018 bà Phan Thị Thu T trình bày: Bà và ông Đỗ Trúc L bắt đầu tìm hiểu nhau từ năm 2005 sau đó tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được UBND phường K cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 06/9/2006.

Quá trình chung sống, thời gian đầu ông bà hạnh phúc nhưng khoảng 02 năm sau khi đăng ký kết hôn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông L thường hay uống rượu về nhà lại chửi bà nên cuộc sống chung giữa vợ chồng không mang lại hạnh phúc. Mâu thuẫn kéo dài đến nay bà xét thấy cuộc sống chung không còn mang lại hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Ông, bà có 02 con chung tên Đỗ Quang V1 (nam), sinh ngày 26/8/2005 và Đỗ Quốc V2 (nam), sinh ngày 25/11/2014. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung bà xác định không có.

Vụ kiện được Toà án thụ lý giải quyết theo luật định. Sau khi thụ lý Toà án đã tiến hành tổ chức hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau các vấn đề trong vụ kiện như hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung (nếu có). Ông Lâm mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Do ông L vắng mặt nên vụ kiện không tiến hành hòa giải được. Do đó căn cứ vào Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử công khai.

Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Về con chung hiện tại cháu Đỗ Quang V1 (nam), sinh ngày 26/8/2005 đang sống cùng ông L, đồng thời tại bản tự khai ngày 12/9/2019 cháu Vinh cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha nên bà T tôn trọng ý kiến của cháu. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Đỗ Quốc V2 (nam), sinh ngày 25/11/2014, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Ông L vắng mặt tại phiên tòa.

Sau khi nghiên cứu những tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thẩm quyền: Hôn nhân giữa bà Trang và ông L được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống b T cho rằng, hôn nhân của bà và ông L đã không còn hạnh phúc nên bà có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L, do đó phát sinh tranh chấp về ly hôn. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân. Do ông L có nơi đăng ký thường trú tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu ly hôn của b T đối với ông L:

Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của bà Trang tại phiên toà hôm nay cho thấy: Hôn nhân giữa bà T và ông L được xác lập trên cơ sở tự nguyện nên khi về chung sống ông bà có thời gian hạnh phúc, có con chung nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo bà T nguyên nhân chủ yếu là do ông L hay rượu chè về nhà lại chửi mắng bà và gia đình bà nên vợ chồng mâu thuẫn. Mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng có thời gian dài sống ly thân từ đó làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, đến nay bà T xác định đã không còn tình cảm với ông L. Đối với ông L, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, ông có biết việc bà T xin ly hôn nhưng luôn vắng mặt và cũng không có thể hiện ý kiến, quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của bà T bằng văn bản gửi đến Tòa án. Do đó, Tòa án không thể ghi nhận được ý kiến của ông và qua đó cho thấy ông L đã mặc nhiên thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và không mong muốn được đoàn tụ với bà T. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông L đã mâu thuẫn thật sự trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nếu có kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông L là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông L có 02 con chung tên Đỗ Quang V1 (nam), sinh ngày 26/8/2005 và Đỗ Quốc V2 (nam), sinh ngày 25/11/2014. Trong đơn khởi kiện bà T có yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà T xác định chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Quốc V2 sinh ngày 25/11/2014, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu này của bà T là có cơ sở chấp nhận, bởi cháu Quốc V2 hiện đang sống cùng với bà T và đã có sự ổn định. Đối với cháu Quang V1, hiện tại sống cùng ông L và tại bản tự khai của mình cháu Quang V1 cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha nên Hội đồng xét xử xét thấy cần để cho cháu Quang V1 có sự ổn định về cuộc sống và học tập nên tiếp tục giao cháu cho ông L nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng do ông L vắng mặt nên Hội đồng xét xử chưa ghi nhận ông có yêu cầu hay không nên không xem xét. Nếu sau này ông L có yêu cầu cấp dưỡng sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có, tuy nhiên do xét xử vắng mặt ông L, không biết ý kiến của ông như thế nào nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và có đơn kiện thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đồng bà Trang phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Thu T đối với ông Đỗ Trúc L.

- Về con chung: Giao cháu Đỗ Quốc V2 (nam), sinh ngày 25/11/2014 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng do bà T không yêu cầu nên không xem xét. Giao cháu Đỗ Quang V1 (nam), sinh ngày 26/8/2005 cho ông Đỗ Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng do ông L vắng mặt nên Hội đồng xét xử chưa ghi nhận ông có yêu cầu hay không nên không xem xét. Nếu sau này ông L có yêu cầu cấp dưỡng và có đơn khởi kiện sẽ được giải quyết thành vụ án khác. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông L, bà T không ai được quyền ngăn cản. Để bảo đảm quyền lợi của trẻ, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do xét xử vắng mặt ông L nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và có đơn kiện thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đồng, bà T phải chịu. Bà T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 001910 ngày 11/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2019/HNST ngày 30/09/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:76/2019/HNST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều - Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về