Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 20/08/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 75/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2020/TLST - HNGĐ ngày 12/3/2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXX- ST ngày 25/6/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đ V T, sinh năm 1986 Trú tại: Thôn Đ H, xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Đ Th H, sinh năm 1988 Trú tại:Thôn Đ H, xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B. Vắng mặt.

 NỘI DUNG VỤ ÁN

 Trong đơn khởi kiện ngày 06/3/2020 và bản tự khai ngày 25/5/2020 của nguyên đơn Đ V T trình bày giữa anh và chị Đ Th H đã đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và đã sinh được 02 người con, sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau gây mất đoàn kết gia đình, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy anh T làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 02 người con chung là cháu Đ B N sinh ngày 17/7/2009 và cháu Đ N B V sinh ngày 08/12/2012. Hiện nay cháu N và cháu V đang ở với anh T. Sau khi ly hôn nguyện vọng của anh T là được nuôi dưỡng cháu N và cháu V và yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 500.000đ/1 tháng.

Tài sản chung và khoản vay chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã triệu tập chị H nhiều lần nhưng chị H không đến Toà án để giải quyết vụ án. Ngày 30/6/2020 Toà án đã đến tại cơ sở và xác minh thì biết được chị H đang có hộ khẩu tại thôn Đ H, xã H S nhưng đã đi làm ăn ở xa, không có mặt tại địa phương. Tòa án đã niêm yết tất cả các giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Thông báo mở lại phiên tòa nhưng chị H vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo yêu cầu của anh T. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Ngày 20/8/2020, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với anh T và chị H. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị H vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà vì vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia giải quyết vụ án đưa ra quan điểm xét xử như sau: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ. Về quan điểm xét xử đối với vụ án: Áp dụng Điều 147, 227, 228, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí. đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, tuyên xử anh Đ V T được ly hôn anh Đ Th H.

Về con chung: Đề nghị giao cho anh Đ V T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Đ B N, sinh ngày 17/7/2009 và cháu Đ N B V sinh ngày 08/12/2012. Xử buộc chị Đ Th H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) Về tài sản chung, các khoản vay chung: anh Đ V T không yêu cầu nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đ V T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Đ Th H phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh Đ V T và chị Đ Th H đã đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã H S, huyện M H, tỉnh Qu B trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên coi đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà hai bên không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai vợ chồng sống ly thân với nhau. Xét thấy nguyện vọng của anh T xin được ly hôn là chính đáng cần chấp nhận, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Đ V T được ly hôn với chị Đ Th H.

[2] Về con chung: Xét thấy hiện nay con chung của hai anh chị đang ở với anh T và nguyện vọng của anh T là được nuôi con và cháu N, cháu V có nguyện vọng là nếu ba mẹ ly hôn thì các cháu muốn được ở với bố vì vậy nên giao con cho anh T nuôi dưỡng là hợp lý. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cho anh Đ V T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Đ B N, sinh ngày 17/7/2009 và cháu Đ N B V sinh ngày 08/12/2012. Xử buộc chị Đ Th H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cho mỗi cháu, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị H phải chịu là 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Đ B N và cháu Đ N B V tròn 18 tuổi.

[3] Tài sản chung và khoản vay chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[4] Án phí: Anh Đ V T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004285 ngày 12/3/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa. Anh T đã nộp đủ án phí.

Chị Đ Th H phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đ V T được ly hôn với chị Đ Th H.

2. Về con chung: Xử giao cho anh Đ V T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Đ B N sinh ngày 17/7/2009 và cháu Đ N B V sinh ngày 08/12/2012. Xử buộc chị Đ Th H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cho mỗi cháu, tổng số tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị H phải chịu là 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Đ B N và cháu Đ N B V tròn 18 tuổi.

Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện kể từ tháng 9/2020. Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Anh Đ V T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004285 ngày 12/3/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa. Anh T đã nộp đủ án phí.

Chị Đ Th H phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

4. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trường hợp bên phải thi hành án do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quy định tại Khoản 2 Điều 357 bộ luật Dân sự mà không có thỏa thuận lãi suất thì thực theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự được xác định mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quá hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự để trả cho bên được thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 20/8/2020), bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.


54
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 20/08/2020 về ly hôn

Số hiệu:75/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Minh Hóa - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về