Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 03/08/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 75/2020/HNGĐ-ST NGÀY 03/08/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 03 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lệ H, sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Ô, xã L, huyện N, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Ngô Chí N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh C ..

Ngày 21 tháng 7 năm 2020 ông Ngô Chí N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2020 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Lệ H trình bày: Bà và ông Ngô Chí N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kêt hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh C.

Trong quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cự cãi do ông N không tin tưởng bà nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, bà và ông N không còn sống chung với nhau từ tháng 7 năm 2019 cho đến nay. Do đó, bà yêu cầu tòa án nhân dân huyện Phú Tân cho bà được ly hôn với ông Ngô Chí N. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết - Tại bản tự khai ngày 21 tháng 7 năm 2020 bị đơn ông Ngô Chí N trình bày: Ông và bà Nguyễn Lệ H chung sống với nhau được 8 tháng, do sống không hợp nên bà H yêu cầu ly hôn ông đồng ý ly hôn. Ông và bà H không có con chung, tài sản chung, nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Lệ H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Ngô Chí N. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Ngô Chí N là bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Ngô Chí N.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lệ H và ông Ngô Chí N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018 có đăng ký kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh C nên hôn nhân giữa bà H và ông N là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa bà H giữ yêu cầu xin ly hôn với ông N vì cho rằng vợ chồng không còn thương yêu nhau và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 7 năm 2019 đến nay. Tại bản tự khai ngày 21 tháng 7 năm 2020 ông N đồng ý ly hôn với bà H. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ly hôn giữa bà Nguyễn Lệ H với ông Ngô Chí N.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà H và ông N không có con chung nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung bà Nguyễn Lệ H, ông Ngô Chí N không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Lệ H phải chịu 300.000 đồng, bà H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Áp dụng các Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình:

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Lệ H và ông Ngô Chí N.

- Về án phí: Bà Nguyễn Lệ H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011626 ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bà Nguyễn Lệ H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Ngô Chí N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

257
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 03/08/2020 về ly hôn

Số hiệu:75/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 03/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về