Bản án 75/2018/HSST ngày 09/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 75/2018/HSST NGÀY 09/04/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 09 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2018/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T; Tên gọi khác: Không; SN: 1988; Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 4/12; Con ông: Hoàng Văn Pa – SN: 1965 và bà Tòng Thị H – SN: 1968; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 26/12/2017 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 26/12/2017, tại khu vực bản Thẳm A, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đã phát hiện bắt quả tang đối tượng Hoàng Văn T ( SN: 1988, trú tại: Bản C, xã M, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La ) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng và ½ viên nén màu hồng ( Theo đối tượng Tự khai là Heroin và ma túy tổng hợp ).

Kết quả cân tịnh số bột màu trắng thu giữ của đối tượng T, có trọng lượng 0,18 gam, rút 0,05 gam ký hiệu T1 làm mẫu vật gửi giám định, số còn lại 0,13 gam ký hiệu T2 đã niêm phong.

Kết quả cân tịnh ½ viên nén màu hồng thu giữ của đối tương Tự, có trọng lượng 0,03 gam ký hiệu T3 gửi toàn bộ mẫu vật để giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 143/KLMT ngày 29/12/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy; Loại chất Heroin; trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 0,18 gam loại chất Heroin;

- Mẫu gửi giám định ký hiệu T3 là chất ma túy, loại chất Methamphetamine; trọng lượng mẫu gửi giám định là 0,03 gam, không hoàn lại mẫu vật gửi giám định.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, bị can Hoàng Văn T đã khai nhận như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 26/12/2017, Hoàng Văn T đi xe khách từ huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La đến xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, khi tới ngã ba Tông Lạnh thì T xuống xe khách và tiếp tục thuê xe ôm đến xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, để tìm mua ma túy sử dụng. Khi tới ngã ba Thôm Mòn, Tự xuống xe máy một mình đi bộ vào trong bản Thôm, trên đường vào bản T gặp Phạm Xuân Tr ( Nhà ở tiểu khu 05, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu ), Trư rủ T góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng, T đồng ý đưa Trường 70.000đ ( Bảy mươi ngàn đồng ) sau đó Tr cầm tiền đi vào bản Thôm sau khoảng 10 phút thì quay trở lại gặp T, cầm theo 01 gói Heroin được gói bằng mảnh ni lon màu trắng, Tr và Tự vào một bụi cây ven đường cùng nhau sử dụng một phần Heroin và ½ viên hồng phiến do Tr vừa mua được, số Heroin còn lại cùng ½ viên hồng phiến thì Tr gói lại đưa cho T cầm về sử dụng sau. Tiếp đó Tr cho T đi nhờ xe máy về ngã ba Tông Lạnh, trên đường đi đến đoạn bản Thẳm A, xã Tông Lạnh thì Tr dừng xe đi bộ vào một nhà ven đường để mượn mũ bảo hiểm cho T đội, trong lúc T đứng ở ven đường chờ Tr thì bị tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, phát hiện bắt giữ cùng vật chứng là gói Heroin + ½ viên hồng phiến như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 51/KSĐT ngày 19/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Hoàng Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, giữ quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Văn T với tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 7 - điểm c khoản 1 Điều 249 – điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 14 đến 18 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Vật chứng là 0,13 gam Heroin ( Số còn lại sau khi trích rút 0,05 gam gửi giám định).

Tại phiên tòa bị cáo ( T ) có ý kiến: Thừa nhận ngày 26/12/2017 do bản thân nghiện ma túy nên đã cùng với đối tượng Tr đi mua ma túy về sử dụng, bị phát hiện bắt quả tang như bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Nay bị cáo đã biết tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Ngày 26/12/2017, bị cáo Hoàng Văn T ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý ( 0,18 gam Heroin và 0,03 gam Methamphetamine ) với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Văn T đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 3 Điều 7 - điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi; Hành vi các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước hết xâm hại đến chính sức khỏe của các bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Xét thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thì BLHS năm 1999 đang có hiệu lực thi hành, tuy nhiên thời điểm truy tố, xét xử bị cáo thì BLHS năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật ( 01/01/2018 ) và so sánh chế tài hình phạt về cùng tội danh giữa khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 ( Từ 02 năm đến 07 năm tù ) và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 ( Từ 01 năm đến 05 năm tù ), thì chế tài hình phạt tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 là có lợi hơn cho người phạm tội. Do đó cần vận dụng các quy định như đã viện dẫn ở trên để xét xử bị cáo, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

[5] Tình tiết tăng nặng: Xét nhân thân bị cáo đã từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản ( Bản án số: 25/2009/HSST ngày 10/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La ) đã được xóa án tích mặc dù không thuộc một trong các trường hợp bị áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 BLHS năm 2015, nhưng vẫn cần xem xét bị cáo thuộc trường hợp là người có nhân thân xấu trước khi phạm tội, làm căn cứ quyết định hình phạt theo theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015.

[6] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[7] Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[9] Xử lý vật chứng:

- Vật chứng là 0,13 gam Heroin ( Số còn lại sau khi trích rút 0,05 gam gửi giám định ), là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đồng thời là vật nhà nước cấm lưu hành. Cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; để tuyên tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với nguồn gốc 0,18 gam Heroin và 0,03 gam Methamphetamine bị bắt giữ, theo bị cáo khai do Phạm Xuân Tr nhà ở tiểu khu 05, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu mua hộ. Kết quả điều tra bằng biện pháp đối chất, tuy nhiên đối Tượng Tr không thừa nhận. Xét ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra, thì không còn chứng cứ khác để chứng minh. Do vậy cơ quan Điều tra không có cơ sở để xử lý đối tượng Phạm Xuân Tr.

[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

 [12] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 3 Điều 7 - điểm c khoản 1 Điều 249 - điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 15 ( Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 26/12/2017.

* Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

+ Chất bột Heroin trọng lượng 0,13 gam ( Không phẩy mười ba gam ) ký hiệu T2 được niêm phong trong phong bì thư;

4. Án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng ).

5. Quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Báo cho bị cáo biết quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

179
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2018/HSST ngày 09/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:75/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về