Bản án 74/2020/HS-ST ngày 27/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 BẢN ÁN 74/2020/HS-ST NGÀY 27/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

 Ngày 27 năm 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:79/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn T sinh năm 1991 tại Mỹ Đức – Hà Nội; nơi cư trú: Thôn PL, xã PL, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không.

- Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án hình sự số: 02/2017/HSST ngày 24/02/2017, bị Toà án nhân dân huyện Ứng Hoá, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa xoá án tích.

Bị tạm giữ từ ngày 05/8/2020, chuyển tạm giam từ ngày 14/8/2020 đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu T sinh năm 1994. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/8/2020, Lê Văn T đi bộ từ nhà ở thôn PL, xã PL, huyện Mỹ Đức đến khu vực đầu cầu Ba Thá thuộc xã Viên An, huyện Ứng Hòa gặp một người thanh niên không biết hỏi và mua 500.000 đồng ma túy kẹo. Người thanh niên đó đồng ý, nhận tiền và đưa cho T 01 túi nilon bên trong có 02 viên nén màu hồng là ma túy kẹo. T cất vào túi quần bên phải đằng trước đang mặc và tìm nơi sử dụng. Khi đi bộ đến khu vực cầu Quán Quốc, thuộc thôn P, xã PL, huyện Mỹ Đức thì bị lực lượng Công an huyện Mỹ Đức kiểm tra, bắt giữ hồi 22 giờ 00 phút ngày 05/8/2020. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon bên trong có hai viên nén màu hồng tại túi quần bên phải đằng trước T đang mặc.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Ngày 06/8/2020, Công an huyện Mỹ Đức có Quyết định trưng cầu giám định số 154/CSĐT. Tại Kết luận giám định số 7250/KLGĐ-PC09 ngày 12/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận:“02 viên nén màu hồng đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng: 0,798 gam”.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số: 76/CT-VKS-MĐ ngày 28/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lê Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 15 đến 18 tháng tù về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội bên trong chứa 02 viên ma tuý loại MDMA có chữ ký của giám định viên và bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Về lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử có cơ sở vững chắc kết luận: Ngày 05/8/2020, Lê Văn T là đối tượng nghiện ma túy đã mua 0,798 gam ma túy loại MDMA để sử dụng thì bị bắt. Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cao cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước mà còn xâm phạm đến trật tự, trị an tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Song cũng xét bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, sau khi bị bắt và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, để phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy ở địa phương cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhất định tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng và phòng ngừa chung đồng thời đảm bảo nguyên tắc nhân đạo của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì mẫu vật đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội có chữ ký của bị cáo và giám định viên bên trong chứa ma túy loại MDMA là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phạt: Lê Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 05/8/2020.

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội có chữ ký của giám định viên và bị cáo bên trong chứa ma túy loại MDMA.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/10/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức và Công an huyện Mỹ Đức) 

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


49
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 74/2020/HS-ST ngày 27/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:74/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về