Bản án 74/2019/HNGĐ-ST ngày 26/06/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 74/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/06/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hoa T, sinh năm: 1993; ĐKTT: Cụm 5, phường K, quận TX, thành phố Hà Nội; Địa chỉ tạm trú: Ấp P, xã Q, huyện CT, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 1993; Địa chỉ: ấp 1, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre;

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T có mặt, anh Đ vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2019, bản tự khai ngày 03 tháng 6 năm 2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Hoa T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện CT, tỉnh Bến Tre vào năm 2013. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc. Một thời gian sau, vợ chồng bất đồng quan điểm, nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên đã không sống chung khoảng hai năm. Qua thời gian không sống chung thì cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh Đ đã không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với nhau nên chị xin được ly hôn với anh Đ.

Chị và anh Đ không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 03 tháng 6 năm 2019 và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt được công chứng ngày 17 tháng 5 năm 2019, bị đơn là anh Nguyễn Thanh Đ trình bày:

Anh và chị Trần Thị Hoa T tự nguyên tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 11 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện CT, tỉnh Bến Tre. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Dần dần, mâu thuẫn giữa anh và chị T ngày càng tăng, khó có thể hàn gắn được và đã ly thân hai năm.

Anh nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt nên anh đồng ý ly hôn. Anh và chị T không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận công tác nên anh yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Trần Thị Hoa T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị với anh Nguyễn Thanh Đ. Anh Đ có nơi cư trú tại ấp 1, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre.

Anh Nguyễn Thanh Đ là bị đơn trong vụ án có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị Hoa T và anh Nguyễn Thanh Đ chung sống có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện CT, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh Đ được xem là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị T và anh Đ đều cho rằng trong thời gian chung sống, anh chị mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, đã không sống chung với nhau khoảng hai năm, không còn quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị T xin ly hôn, anh Đ đồng ý.

Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T để giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

[3] Về con chung: Chị T và anh Đ không có con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh Đ khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên ghi nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hoa T.

Chị Trần Thị Hoa T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ.

Về con chung: Chị Trần Thị Hoa T và anh Nguyễn Thanh Đ không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung:

Ghi nhận chị Trần Thị Hoa T và anh Nguyễn Thanh Đ khai không có tài sản chung, không có nợ chung.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Trần Thị Hoa T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002261 ngày 09 tháng 5 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G. Chị T đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2019/HNGĐ-ST ngày 26/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:74/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về