Bản án 74/2019/HNGĐ-ST ngày 12/11/2019 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 74/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/11/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 12/11/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2019/TLST-HNGĐ ngày 16/9/2019 về việc: “Xin ly hôntheo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/10/2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Dương Văn H, sinh năm 1969 (Có mặt).

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 (Có đơn xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và trong quá trình tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn - anh Dương Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 3 năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Thôn N, xã T, huyện T, cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là trong 07 năm chung sống nhưng vợ chồng không có con chung. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ tháng 4 năm 2018 đến nay chị Tđã bỏ đi không chung sống cùng anh nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại chung sống với nhau được nữa, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn chị T.

Về con chung: Anh và chị T không có con chung

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt có xác nhận của chính quyền địa phương, bị đơn – chị Nguyễn Thị T trình bày: Hiện nay chị đã biết Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án xin ly hôn giữa chị và anh Dương Văn H chị đã nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhưng do chị bận công việc làm ăn không thể lên Tòa để làm việc được nên chị xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án (vắng mắt tại các buổi hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa và chị xin chấp hành mọi phán quyết của Tòa. Quan điểm của chị về các mối quan hệ cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Văn H kết hôn với nhau vào ngày 22 tháng 3 năm 2013, việc kết hôn giữa hai người là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có con chung. Nay ah H có đơn xin ly hôn chị, quan điểm của chị đồng ý ly hôn ah H.

Về quan hệ con chung: Chị và ah H không có con chung và hiện tại chị cũng không có thai.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại biên bản lấy lời khai của mẹ đẻ chị T là bà Phí Thị L, sinh năm 1958, địa chỉ Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 20 tháng 9 năm 2019, bà L trình bày: Chị Tvà ah H tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình vào năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Tah H chung sống với nhau ở gần nhà bà, Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng chung sống nhưng không có con chung. Quá trình chung sống chị Tvà ah H không có một con chung, còn về phần tài sản chung và nợ chung của ah H và chị Tbà không nắm được. Nay ah H có đơn xin ly hôn anh chị T, quan điểm của bà là tôn trọng quyết định của hai anh chị ấy, bà không có ý kiến gì.

Hiện tại chị Tđang đi làm ăn ở Miền nam nhưng làm gì và ở địa chỉ cụ thể nào thì bà không biết, chỉ biết thỉnh thoảng chị Tcó về nhà nhưng bà không hỏi và chị Tcũng không nói. Bà đã thông báo toàn bộ các văn bản (Thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp và hòa giải, giấy triệu tập) mà Tòa án giao cho chị T, chị Tđã biết nhưng vì bận công việc nên chị Tkhông lên Tòa án làm việc được do đó chị Tviết đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nhờ bà đem lên Tòa nộp hộ.

Ti phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn là ah H đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn là chị Nguyễn Thị T không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho anh Dương Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị T. Về quan hệ con chung và tài sản chung không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xét thấy nguyên đơn là anh Dương Văn H khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị T, chị Tcó hộ khẩu thường trú tại Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của ah H là đúng thẩm quyền.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Tlà phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn H và chị Nguyễn Thị T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 22/3/2013 xác định là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng ah H chị Tmâu thuẫn là do không có con chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Từ tháng 4 năm 2018 đến nay ah H và chị Tchính thức sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai nữa. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của ah H và chị Thoanđã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ah H, xử cho ah H được ly hôn chị Tlà phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Dương Văn H và chị Nguyễn Thị T không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Dương Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Dương Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Dương Văn H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn)đồng ah H đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0009262 ngày 16/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, anh Dương Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 12 tháng 11 năm 2019. Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2019/HNGĐ-ST ngày 12/11/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:74/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiền Hải - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 12/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về