Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 74 /2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 313/2018/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/10/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 72/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2018; quyết định hoãn phiên tòa số 74/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số 19/231 T, phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng, có mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số 19/231 T, phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai của anh Nguyễn Văn S có trong hồ sơ thể hiện:

Anh Nguyễn Văn S và chị Vũ Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái vào năm 1996.

Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian; đến năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, căng thẳng và trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, phương pháp nuôi dạy con cái và vợ chồng không tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Từ đó dẫn đến hôn nhân rạn nứt, không khí gia đình nặng nề, căng thẳng. Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng tránh mặt nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay anh S xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Duy K, sinh năm 1997 (đã thành niên) và Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 14/10/2001. Con lớn đã thành niên nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Duy Kh, anh S có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Vũ Thị T vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập chị T và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị T nhưng chị T không có mặt tại Tòa án. Điều đó cho thấy chị T đã tự từ bỏ quyền cũng như không thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật, không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng với anh S và việc nuôi dưỡng con chung.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng, bị đơn không chấp hành các quy định về pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Anh S và chị T lấy nhau có đăng ký kết hôn vì vậy hôn nhân của anh S và chị T là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho anh S được ly hôn chị T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh S và chị T có 02 con chung tên là Nguyễn Duy K, sinh năm 1997 (đã thành niên) và Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 14/10/2001. Con lớn đã thành niên nên không xem xét, giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Duy Kh, anh S có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con đến khi con đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản khai, không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung Nguyễn Duy Kh cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Anh S không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Anh S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận xét:

[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và xác nhận tạm trú thể hiện: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số 19/231 T, phường N, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nên căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn S và bị đơn là chị Vũ Thị T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Vũ Thị T vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Bởi vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Vũ Thị T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn S và chị Vũ Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái vào năm 1996 nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống: Anh S và chị T đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2013 do hai bên bất đồng về quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống, hai bên không tin tưởng lẫn nhau về tình cảm. Hiện nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Đến nay anh S xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, quan hệ vợ chồng trên thực tế đã không còn tồn tại. Quá trình lấy lời khai của các con anh S cũng như ở địa phương nơi anh S, chị T cư trú cũng thể hiện mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức cần phải cho ly hôn. Bởi vậy, anh S yêu cầu được ly hôn chị T là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh S và chị T có 02 con chung tên là Nguyễn Duy K, sinh năm 1997 (đã thành niên) và Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 14/10/2001. Con lớn đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Duy Kh, anh S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con đến khi con đủ 18 tuổi, cháu Khánh cũng có nguyện vọng được ở với anh S. Mặt khác chị T không có lời khai, không có ý kiến gì và không đến Tòa án trình bày nguyện vọng quan điểm của mình. Do vậy khi ly hôn cần giao con chung của vợ chồng anh S chị T tên là Nguyễn Duy Kh cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh S không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Anh Nguyễn Văn S phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 28; 147; 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các điều 51; 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Anh Nguyễn Văn S được ly hôn Chị Vũ Thị T.

Về con chung: Giao con chung của anh Nguyễn Văn S và chị Vũ Thị T tên là Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 14/10/2001 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn S phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh S đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012529 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:74/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về