Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn và nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THANH HOÁ

BẢN ÁN 74/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2018 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Ngày 19/9/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 /8/2018 về tranh chấp HN&GĐ. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2018/ HNGĐ-ST ngày 04/9/2018 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị O - Sinh năm: 1981

Trú tại: Thôn 3, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Lê Văn T - Sinh năm 1972

Trú tại: Thôn 3, xã T, huyện T - Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 20/7/2018, lời khai, biên bản hòa giải tại Tòa án nhândân huyện T, nguyên đơn chị Lê Thị O trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 18/5/2001, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian dài thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, tính tình không hợp, không có tiếng nói chung, thiếu niềm tin, anh nghi ngờ sự chung thủy của chị và cho rằng cháu L không phải là con chung của vợ chồng, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau. Hiện tại vợ chồng ở chung 1 nhà nhưng không quan tâm đến nhau. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải vợ chồng đoàn tụ, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn T.

Anh T trình bày: Anh và chị O kết hôn vào ngày 18/5/2001, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống hạnh phúc, tuy nhiên có những lúc bất đồng về quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau. Nay anh xét thấy tình cảm của anh đối với chị O đang còn, chị O xin ly hôn anh không đồng ý và mong muốn vợ chồng đoàn tụ

Về con chung:

Chị O trình bày: Vợ chồng có 02 con chung, cháu Lê Kim L, sinh ngày 30/3/2003 và cháu Lê Kim Ngọc H sinh ngày 11/5/2012. Nguyện vọng của chị đề nghị được nuôi cả 2 con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T trình bày: Vợ chồng có 02 con chung, cháu Lê Kim L, sinh ngày 30/3/2003 và cháu Lê Kim Ngọc H như chị O trình bày là đúng. Nguyện vọng của anh là được nuôi cả 2 con và không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Ngày 17/8/2018 chị O rút yêu cầu giải quyết về phần tài sản của vợ chồng, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về Hôn nhân: Chị Lê Thị O anh Lê Văn T kết hôn với nhau vào ngày kết hôn vào ngày 18/5/2001, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, tính tình không hợp, không có tiếng nói chung, thiếu niềm tin đối với nhau, dẫn dến vợ chồng thường xuyên cải nhau, gia đình hai bên nhiều lần khuyên giải vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được, vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng không quan tâm đến nhau. Gia đình hai bên nhiều lần khuyên giải vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng chị O xin ly hôn anh T không đồng ý và mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Tuy nhiên trong suốt thời gian vợ chồng mâu thuẫn, nhưng anh T không đưa ra được những giải pháp để vợ chồng đoàn tụ vì vậy khó có khả năng đoàn tụ, cải thiện được tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ tình trạng vợ chồng giữa chị O và anh T đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O.

[2] Về con chung: Chị O và anh T có 02 con chung, cháu Lê Kim L, sinh ngày 30/3/2003 và cháu Lê Kim Ngọc H sinh ngày 11/5/2012.

Tại phiên tòa chị O và anh T đều có nguyện vọng nuôi cả 2 con và không yêu cầu cấp dưỡng. Song xét việc yêu cầu nuôi con của anh T và chị O là chính đáng. Tuy nhiên chị O và anh T đều có công việc và mức thu nhập ổn định. Do vậy giao cho mỗi người nuôi dưỡng một cháu là phù hợp.

Giữa cháu L và anh T tính cách không hợp nhau. Do vậy giao cháu L cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu L; giao cháu H cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Do các bên mỗi người trực tiếp nuôi một cháu, do vậy các bên không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản: Việc chị O rút yêu cầu chia tài sản là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị O và anh Lê Văn T được ly hôn

2.Về con chung: Giao cháu Lê Kim L, sinh ngày 30/3/2003 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Kim Ngọc H sinh ngày 11/5/2012 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị O và anh T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của Chị O và anh T. Khi các đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

4. Về án phí: Chị Lê Thị O phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ. Trả lại cho chị O 3.125.000đ ( ba triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2017/0005131, ngày 23/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Thanbh Hóa.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

222
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn và nuôi con chung

Số hiệu:74/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thành - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 19/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về