Bản án 73/2020/HNGĐ-ST ngày 27/07/2020 về ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

 BẢN ÁN 73/2020/HNGĐ-ST NGÀY 27/07/2020 VỀ LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 27 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2020/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Lý Thị Thùy L, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Ấp TT B, xã AT A, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: anh Trần Văn Đ, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Ấp TT B, xã AT A, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

(chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 25/02/2020, trong quá trình tố tụng chị Lý Thị Thùy L trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh Đ chung sống vào năm 1999 trên tinh thần tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám cưới theo phong tục nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn.

Trong thời gian chung sống chị và anh Đ thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau, cuộc sống luôn căng thẳng không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là không cùng quan điểm, mỗi người có một suy nghĩ, cách sống khác nhau. Chị và anh Đ cũng đã nhiều lần thương lượng, hòa giải để tiếp tục chung sống nhưng không thành. Hiện nay anh chị đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh chị không còn quan tâm lẫn nhau. Nay xét thấy không còn tình cảm nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Đ có 02 người con chung là Trần Thị Kim C, sinh ngày 12/9/2000 hiện nay đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết. Người con Trần Hạo N, sinh ngày 21/4/2010 hiện nay đang sống cùng chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Văn Đ vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo triệu tập của Tòa án.

Nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 1999, chị L và anh Đ chung sống trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức đám theo phong tục tại địa phương nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn nên hôn nhân của chị L và anh Đ là không hợp pháp. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh Đ, căn cứ vào Điều 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị L và anh Đ là vợ chồng.

Về con chung: người con Trần Thị Kim C, sinh ngày 12/9/2000 hiện nay đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Người con Trần Hạo N, sinh ngày 21/4/2010 hiện nay đang sống cùng chị L, khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Nguyện vọng của người con Trần Hạo Nam muốn sống cùng chị L nên tiếp tục giao con cho chị L nuôi là phù hợp. Anh Đ có quyền thăm con chung không ai được cản trở.

Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ: chị L không không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí hôn nhân chị L nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Lý Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn Đ, anh Đ có địa chỉ cư trú tại ấp TT B, xã AT A, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Chị Lý Thị Thùy L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Trần Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Năm 1999, chị L và anh Đ tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân của chị L và anh Đ là không hợp pháp. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh Đ, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận chị L và anh Đ là vợ chồng.

[2.2]. Về con chung: người con Trần Thị Kim C, sinh ngày 12/9/2000 hiện nay đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Người con Trần Hạo N, sinh ngày 21/4/2010 hiện nay đang sống cùng chị L. Tại biên bản ghi ý kiến ngày 18/6/2020 thì nguyện vọng của người con Trần Hạo N muốn sống cùng chị L. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chưa thành niên cần tiếp tục giao con cho chị L nuôi là phù hợp. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ: chị L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: chị L phải nộp số tiền 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Lý Thị Thùy L và anh Trần Văn Đ là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao người con Trần Hạo N, sinh ngày 21/4/2010 cho chị Lý Thị Thùy L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trần Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị Lý Thị Thùy L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ: Chị Lý Thị Thùy L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm hôn nhân chị Lý Thị Thùy L phải nộp số tiền 300.000 đồng, chị Lý Thị Thùy L đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007517 vào ngày 09/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


55
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 73/2020/HNGĐ-ST ngày 27/07/2020 về ly hôn, nuôi con

Số hiệu:73/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về