Bản án 73/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 73/2019/HS-ST NGÀY 23/10/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Thanh H; tên gọi khác: T, sinh năm 1994 tại Bình Phước; thường trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; tạm trú: xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh Đ và bà Nguyễn Thị V; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự 01: Tại quyết định số 1073/QĐ ngày 11/01/2019 Công an phường L, Tp B xử phạt hành chính đối với Trần Thanh H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/5/2019. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Nguyễn Tấn P, sinh năm 1991; cư trú tại: phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1972; cư trú tại: phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 04/04/2019, tại tầng hầm quán karaoke K thuộc phường P, Tp. B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Công an Tp. B phối hợp Công an phường P bắt quả tang Trần Thanh H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ gồm: 04 (bốn) viên nén hình tròn màu xanh, 03 (ba) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất bột mịn màu trắng, 01 (một) điện thoại di động có chữ Huawei, 01 (một) xe máy biển số 72D1-240.74 và số tiền 930.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra H khai nhận về nguồn gốc ma túy: Trước thời điểm bị bắt, Hải đến quán Club, tại quận G, Tp. Hồ Chí Minh gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) mua 06 viên ma túy tổng hợp và 03 gói ma túy loại khay với số tiền 2.400.000 đồng mục đích để sử dụng. H đã sử dụng hết 02 viên ma túy, số còn lại H cất để sử dụng dần. Đến ngày 04/04/2019 H mang theo số ma túy đến quán karaoke K thuê phòng để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Qua xét nghiệm thì H dương tính với chất ma túy.

Mở rộng điều tra và tiến hành lấy lời khai của bị can Trần Văn Quốc Đ trong vụ án Mua bán trái phép chất ma túy khởi tố ngày 05/6/2019, Đ khai nhận đã 02 lần giúp H bán ma túy cho Lê B (hiện đã bỏ trốn) và được H cho 200.000 đồng. Tuy nhiên, qua lời khai của H và tiến hành đối chất giữa Đ và H thì H chỉ thừa nhận vào khoảng tháng 02/2019, H có đưa 01 gói ma túy khay cho Đ để Đ đưa cho B, số ma túy này H không bán mà cho B để sử dụng, sau đó H cho Đ 200.000 đồng để ăn trưa vì trước đó Đ có xin tiền H. Hiện nay B đã đi khỏi địa phương nên không tiến hành lấy lời khai, đối chất được, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm đối với B.

Tại Bản kết luận giám định số 126/GĐMT-PC09 (Đ4) ngày 10/04/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận:

- “Bốn viên nén hình tròn màu xanh (mẫu A1), được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của công an phường P -Công an Tp B gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,3655 gam, là chất ma túy, loại MDMA.

- Mẫu chất bột mịn màu trắng chứa trong 03 (ba) gói nylon hàn kín (mẫu A2), được niêm phong trong phong bì nêu trên, gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,2145 gam, là chất ma túy, loại Ketamine.” Trần Thanh H cất giấu 1,3655 gam ma túy loại MDMA và 1,2145 gam ma túy loại Ketamine, đây là chất ma túy khác ở thể rắn, nhằm mục đích sử dụng. Cả hai chất ma túy này đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; trong đó có một chất MDMA có khối lượng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ xác định như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 27,31% (1,3655 gam so với 05 gam); Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) được quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 BLHS là 6,0725% (1,2145 gam so với 20 gam). Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu của từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 33,3825%.

Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

+ Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô biển số 72D1-240.74 (đứng tên ông Lê Nguyễn Tấn P); Qua xác minh ông P không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên 23/5/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông P; Đối với 01 phong bì chứa ma túy được niêm phong, 01 ĐTDĐ hiệu Huawei và số tiền 930.000 đồng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B bảo quản, chờ xử lý.

- Đối với đối tượng Lê B, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, truy tìm để làm rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Trần Thanh H, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với người bán ma túy cho H do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 86/CT-VKSBR ngày 11/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Trần Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm 1 khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trên cơ sở việc xét hỏi và tranh luận công khai, dân chủ thể hiện:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 18 đến 24 tháng tù; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ, trả lại cho bị cáo 01 ĐTDĐ và số tiền 930.000 đồng; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Ý kiến bị cáo tại phiên tòa: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì thêm và đề đạt hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên;

Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản quả tang, kết luận giám định đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 04/4/2019 tại quán karaoke K (thuộc phường P, Tp. B). Trần Thanh H có hành vi tàng trữ trái phép 04 viên ma túy loại MDMA, khối lượng 1,3655 gam và 03 gói ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,2145 gam với mục đích tang trữ để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ đủ định lượng theo quy định tại các điểm c và g khoản 1 và là tình tiết định khung theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì xác định tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy MDMA và Ketamine là 33,3825% (định khung theo khoản 1 Điều 249). Như vậy, đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Thanh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét lời khai của Trần Văn Quốc Đ cho rằng bị cáo H có hành vi bán ma túy cho đối tượng Lê B: Quá trình điều tra bị cáo H chỉ thừa nhận nhờ Đ đưa ma túy cho B sử dụng, hiện B không có mặt tại địa phương nên chưa có lời khai và tiến hành đối chất giữa các bên, nên chưa đủ căn cứ xác định hành vi mua bán ma túy của H.

[3] Xét tính chất, mức độ của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng với lối sống buông thả bất chấp nên thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người nghiện ma túy, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này. Do đó cần thiết phải có một hình phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo một thời gian đủ dài để tập trung giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên cần vận dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, nghề nghiệp không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 72D1-240.74 đã giao trả lại, sau khi nhận lại xe thì ông P không có yêu cầu gì; Đối với số ma túy thu giữ trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy, đối với 01 ĐTDĐ và số tiền 930.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần giao trả lại cho bị cáo.

[7] Đối với đối tượng Lê B, khi nào xác minh làm rõ được sẽ tiến hành xử lý sau.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[9] Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

 1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 126 ngày 10/4/2019 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu niêm phong và đóng dấu.

- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh H 01 ĐTDĐ hiệu Huawei, số Imel: 867907038313001 và 930.000đ (Chín trăm ba mươi nghìn đồng).

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Tp. B theo biên bản giao nhận số 05/BB.THA ngày 11/10/2019)

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết)./.


33
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về