Bản án 73/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 73/2019/HS-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:  71/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Dương Văn T, sinh năm 1964, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu B  1, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Huy T (đã chết) và bà Đinh Thị T; bị cáo có vợ là Đinh Thị Y và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2019 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đinh Thị Y, sinh năm 1976, nơi cư trú: Tiểu khu B 1, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ 10 phút ngày 15/02/2019, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu V, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Dương Văn T đã phát hiện Dương Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu xanh, bên trong đựng chất bột màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng đen. Dương Văn T khai là Heroine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải Dương Văn T về Công an huyện M để điều tra làm rõ, tạm giữ của Dương Văn T 01 xe máy nhãn hiệu ANGEL-VDB sơn màu đen - xám, biển kiểm soát 26K8-5626, số khung, số máy 020478.

Ngày 15/02/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với VKSND huyện M và phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng số ma túy của Dương Văn T, kết quả: Gói chất bột màu trắng thu giữ Dương Văn T có khối lượng 0,16 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “T”. Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 478 ngày 19/02/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,16 gam; loại Heroine.

Quá trình điều tra Dương Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/02/2019 Dương Văn T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu ANGEL-VDB sơn màu đen - xám, biển kiểm soát 26K8-5626 từ nhà ở của T đến khu vực bản C 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết trên đường dân sinh của bản C 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. T hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng cục bột màu trắng là Heroine với giá 200.000đ. Sau đó T cất giấu gói heroine vào trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thằng Long màu vàng, đen rồi bỏ vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển  xe máy đi về nhà. Khi đi đến khu vục vực tiểu khu V, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Bản cáo trạng số: 69/CT-VKSMC ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M giữ nguyên quan điểm truy tố Dương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1, 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Dương Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù; Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000đ.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,07 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đen; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Dương Văn T.

Tạm giữ của gia đình bị cáo 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ANGEL-VDB sơn màu đen - xám, biển kiểm soát 26K8-5626, số khung, số máy 020478, xe máy đăng ký mang tên Nguyễn Kim A, xe đã qua sử dụng để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí và hình phạt bổ sung.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà bị cáo Dương Văn T thừa nhận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 15/02/2019 Dương Văn T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Dương Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra đã thu giữ của gia đình bị cáo 01 xe máy, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo một khoản tiền nhất định là phù hợp.

[4] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,07 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đen; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Dương Văn T, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ANGEL-VDB sơn màu đen - xám, biển kiểm soát 26K8-5626, số khung, số máy 020478, xe máy đăng ký mang tên Nguyễn Kim A (xe cũ đã qua sử dụng). Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay xác định là tài sản chung của vợ, chồng Dương Văn T và Đinh Thị Y. Việc bị cáo Dương Văn T sử dụng xe dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm chị Đinh Thị Y không biết và không liên quan. Do đó cần tuyên tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

[5] Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

[7] Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn T 18 (mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 15/02/2019.

Phạt bổ sung đối với bị cáo là 1.000.000đ (một triệu đồng).

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Dương Văn T, bắt ngày 15/02/2019: Bên trong đựng 0,07 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Dương Văn T, ngày 15/02/2019, kết quả: Dương tính. Bên trong đựng test thử ma túy của Dương Văn T; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đen, đã qua sử dụng.

Tạm giữ của bị cáo Dương Văn T và vợ bị cáo là Đinh Thị Y: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ANGEL-VDB sơn màu đen - xám, biển kiểm soát 26K8-5626, số khung, số máy 020478, xe máy đăng ký mang tên Nguyễn Kim A, xe đã qua sử dụng cũ, không kiểm tra máy móc bên trong. Để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí và hình phạt bổ sung.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều  21,  điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 23/4/2019.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:73/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về