Bản án 73/2019/HS-ST ngày 18/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 73/2019/HS-ST NGÀY 18/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Đặng Đình T, sinh ngày 23/7/1989 tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Xóm P, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Đình Th (đã chết) và bà Trương Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 03, cụ thể: Ngày 24/5/2011 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 48 tháng tù về các tội “Cướp tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 19/2011/HSST (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/7/2014); Ngày 31/7/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 54/2015/HSST (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/8/2016); Ngày 22/02/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999 tại Bản án số 10/2017/HSST (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/7/2019); Nhân thân: Ngày 29/10/2019 bị Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 38/2019/HSST; Bị cáo hiện đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trịnh Diệu O – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt

- Bị hại: Anh Lê Hữu P; Sinh năm 1995; Trú tại: Tổ dân phố Y, phường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thành G; Sinh năm 1979;

Trú tại: Xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Sửa chữa điện tử; Vắng mặt

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu P; Sinh năm 1977; Trú tại: Xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 28/7/2019, Đặng Đình T phát hiện ngôi nhà của anh Lê Hữu P ở số 139 đường B thuộc phường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh cửa phòng khách và cổng mở, quan sát thấy không có người ở trong nhà nên Đặng Đình T đi vào phòng khách lấy trộm 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LED SAMSUNG 40 Inch, màu đen trị giá 4.600.000 đồng của anh Phi rồi đón xe taxi đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đến cửa hàng điện tử số 11, đường Đthuộc phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, T bán chiếc ti vi trên cho anh Lê Thành G chủ cửa hàng với giá 1.000.000 đồng. Số tiền bán ti vi, T đã tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc ti vi trên tại anh Lê Thành G trả lại cho bị hại anh Lê Hữu P. Đặng Đình T đã trả lại cho anh Lê Thành G số tiền 1.000.000 đồng. Anh P và anh G không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 57/KLĐG ngày 01/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Hà Tĩnh kết luận: 01 chiếc ti vi LED SAMSUNG 40 inch màu đen, mã hiệu UA40j5000 có số IMEI: 008Z3NCH501742 đã qua sử dụng trị giá 4.600.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên của Hội đồng định giá tài sản.

Bản cáo trạng số 74/CT-VKSTPHT ngày 23/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố bị cáo Đặng Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đặng Đình T từ 03 năm đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa có nội dung: nhất trí với luận tội về tội danh và điều luật áp dụng, về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo không tranh luận bổ sung. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 28/7/2019, tại nhà số 139 đường B thuộc phường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Đặng Đình T đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LED SAMSUNG 40 inch màu đen trị giá 4.600.000 đồng của anh Lê Hữu P rồi bán cho anh Lê Thành G, thu lợi bất chính 1.000.000 đồng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Đặng Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền án về tội xâm phạm sở hữu nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần xử bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần vì bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Tại Bản án số 38/2019/HSST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt bị cáo Đặng Đình T 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2019. Do bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên việc tổng hợp hình phạt đối với bị cáo do người có thẩm quyền theo quy định pháp luật thực hiện.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. [6] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng. Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

[7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ tại anh Lê Thành G chiếc ti vi và trả lại cho bị hại anh Lê Hữu P là phù hợp.

[8] Về dân sự: Bị hại anh Lê Hữu P đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Thành G đã nhận đủ số tiền 1.000.000đ. Anh P và anh G không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

[9] Đối với anh Nguyễn Hữu P điều khiển xe tắc xi chở T đi bán ti vi và anh Lê Thành G mua chiếc ti vi trộm cắp nhưng xét anh P và anh G không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý đối với anh P và anh G là phù hợp.

[10] Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Đặng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Đặng Đình T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí cho Đặng Đình T.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HS-ST ngày 18/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:73/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về