Bản án 73/2019/HS-ST ngày 06/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H - TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 73/2019/HS-ST NGÀY 06/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2019/TLST-ST ngày 06 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2019/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:

Dƣơng Trọng Đ; tên gọi khác: không, sinh năm 1967, tại huyện Đ L – Nghệ An. Trú tại: T K 40, TT N Tr M Ch, huyện M Ch, tỉnh Sơn La; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hoá: 10/10;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Dương Trọng Nh (Đã chết) và bà Thái Thị Q; bị cáo có vợ: Lê Thị H (Đã ly hôn), sinh năm 1979, bị cáo có 01 con, sinh năm 2002.

Tiền án: Ngày 23/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2019.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

+ Ngày 18/2/2009 bị Tòa án nhân dân huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phí HSST ngày 07/4/2009. Phần bồi thường dân sự đã hết thời hiệu thi hành án nhưng người được thi hành án không đề nghị thi hành.

+ Ngày 04/8/2009 bị cưỡng chế vào chữa trị, giáo dục lao động tại Trung tâm giáo dục – Lao động tỉnh Sơn La. Chấp hành xong ngày 14/01/2012.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 5 năm 2019 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Người có chứng kiến: Anh Hoàng Anh T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Bản B Nh 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 50 phút, ngày 14/5/2019, tổ công tác Công an huyện VH làm nhiệm vụ tại khu vực bản Ch Đ 1, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La, dừng xe máy BKS 26G1-100.31 do Dương Trọng Đ điều khiển. Kiểm tra phát hiện Dương Trọng Đ tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong đựng 06 viên nén màu hồng, trên bề mặt đều có ký hiệu WY, Đ khai nhận đó là ma túy tổng hợp mua để sử dụng. Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, tạm giữ của Dương Trọng Đ 01 xe máy BKS 26G1-100.31 kèm giấy đăng ký xe mang tên Dương Trọng Đ và dẫn giải về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VH để xử lý.

Cùng ngày, Tại Cơ quan điều tra Công an huyện VH tiến hành cân tịnh 06 viên nén màu hồng thu giữ của Dương Trọng Đ xác định được khối lượng 0,63 gam, lấy 0,32 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là Đ.

Tại bản kết luận giám đinh số 899/KLMT ngày 16/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám đinh ký hiệu Đ là ma túy; loại Methamphetamine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,32 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 0,63 gam, loại chất Methamphetamine”.

Quá trình điều tra Dương Trọng Đ khai nhận: Do nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 14/5/2019, Đ điều khiển xe máy đi từ nhà đến bản Ch Đ 1, xã VH, huyện VH để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đường dân sinh bản Ch Đ 1, xã VH, Đ gặp và hỏi mua một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ 06 viên Hồng Phiến, với giá 300.000đ. Mua được ma túy, Đ cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà, trên đường về thì Đ bị Tổ công tác Công an huyện VH phát hiện bắt giữ.

Tại bản Cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 05/8/2019 của Viện kiểm sát nhân huyện VH, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Dương Trọng Đ về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Trọng Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Trọng Đ từ 24 đến 30 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng phạt bổ sung, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 0,31 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì bên trọng đựng que thử ma túy đối với Dương Trọng Đ, tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy Honda, loại Wave RS, BKS 26G1-100.31 màu sơn xanh đen đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 011337 mang tên Dương Trọng Đ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Ngày 14/5/2019, Dương Trọng Đ bị phát hiện bắt quả tang có hành vi tàng trữ 0,63 gam Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân,khối lượng ma túy đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Gây nguy hiểm, mất trật tự an toàn xã hội, làm lây lan, phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy. Bị cáo phạm tội trong khi chưa được xóa án tích, là tái phạm, có nhân thân xấu. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Phù hợp với các Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện VH, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện VH trong quá trình điều tra, truy tố về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có bố mẹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[4] Về phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có khả năng thi hành, do đó, không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,31 gam Methamphetamine và vỏ gói niên phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Dương Trọng Đ, là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS 26G1-100.31 màu xanh đen, số khung RLHJC 5283ĐY 042682, số máy JC52E-1206264 đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe số 011337 mang tên Dương Trọng Đ là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Bị cáo dùng xe máy làm phương tiện phạm tội, do vậy, cần tuyên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

[6] Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo khai đã mua 06 viên ma túy của một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ, không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Dương Trọng Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt Dương Trọng Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2019.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,31 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Dương Trọng Đ.

+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS 26G1-100.31 màu xanh đen, số khung RLHJC 5283ĐY 042682, số máy JC52E-1206264 đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe số 011337 mang tên Dương Trọng Đ.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 93/BBVC-CCTHA, ngày 08/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HS-ST ngày 06/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:73/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vân Hồ - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về