Bản án 73/2019/HNGĐ-ST ngày 31/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 73/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/12/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 31 tháng 12 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 719/2019/TLST-HNGĐ 10 tháng 12 năm 2019 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con số 719/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn:

Chị Lê Thị Kim P, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Chị Lê Thị Kim P có mặt.

2. Bị đơn:

Anh Phan Thành L, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Anh Phan Thành L có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn ly hôn, tại bản tự khai, tại biên bản hòa giải cũng như tại tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Kim P trình bày:

Chị và anh Phan Thành L đăng ký kết hôn năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2011 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng hay cải vã, anh L hành hung chị và đe dọa giết mẹ con chị nên cách nay 6-7 tháng vợ chồng đã ly thân.

Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Phan Thành L nên yêu cầu giải quyết:

- Về hôn nhân: Ly hôn anh Phan Thành L.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phan Thị Mỹ H, sinh ngày 04/01/2004 hiện đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh Phan Thành L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ gì của ai nên không yêu cầu giải Tại bản tự khai, tại biên bản hòa giải cũng như tại tòa, bị đơn anh Phan Thành L trình bày:

Anh và chị Lê Thị Kim P đăng ký kết hôn năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng cách nay khoảng 6-7 tháng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ anh nghe lời người ngoài dụ dỗ ly hôn, ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác.

Nay chị Lê Thị Kim P xin ly hôn, anh có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phan Thị Mỹ H, sinh ngày 04/01/2004 hiện đang sống chung với vợ. Anh không đồng ý ly hôn nhưng nếu Tòa án cho vợ chồng ly hôn thì anh đồng ý giao con chung cho vợ nuôi và anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ gì của ai nên không yêu cầu giải Tại tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm như sau:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng tuân thủ đúng quy định pháp luật. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P. Sau khi ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung tên Phan Thị Mỹ H, sinh ngày 04/01/2004 cho chị P nuôi. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc chị P không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Đương sự trình bày không có tài sản chung cũng như không có nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, kết quả tranh tụng cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của chị Lê Thị Kim P đối với anh Phan Thành L thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Anh Phan Thành L có nơi cư trú tại số A ấp Ti, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim P và anh Phan Thành L đăng ký kết hôn năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị P cho rằng sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng hay cải vã, chồng hành hung chị và đe dọa giết mẹ con chị nên cách nay 6-7 tháng vợ chồng đã ly thân. Anh L cũng thừa nhận cách nay khoảng 6-7 tháng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân. Tuy nhiên, theo anh L nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ anh nghe lời người ngoài dụ dỗ ly hôn, ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác.

Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa vợ chồng chị P và anh L vào ngày 16/12/2019, chị Huỳnh Thị D là chị dâu của chị P cho biết: Chị sống gần nhà chị Lê Thị Kim P và anh Phan Thành L. Trước đây chị P và anh L sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây do phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng đã ly thân.

Mặc dù chị P và anh L trình bày không thống nhất với nhau về nguyên nhân dẫn đến phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai đều thừa nhận thực tế vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và cũng đã ly thân. Tại tòa, chị P xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh L và vẫn cương quyết ly hôn. Trước đây chi P đã nộp đơn ly hôn anh L, sau đó chị P rút lại đơn ly hôn nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ. Tuy nhiên, từ khi Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ ván đến nay vợ chồng vẫn không tìm ra biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tạo điều kiện cho chị P và anh L hòa giải nhằm hàn gắn, đoàn tụ nhưng không mang lại hiệu quả. Ngoài ra, ngày 16/12/2019 chị P có đơn yêu cầu Tòa án không tiếp tục hòa giải mà sớm đưa vụ án ra xét xử với lý do anh L đe dọa giết mẹ con chị nên nếu kéo dài thời gian giải quyết vụ án sẽ ảnh hưởng đến tính mạng mẹ con chị. Thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh L thực tế đã diễn ra, đã kéo dài và đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của chị P là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: Tại tòa, các đương sự thừa nhận con chung tên Phan Thị Mỹ H hiện đang sống chung với chị P. Chị P yêu cầu được nuôi con chung. Anh L cũng đồng ý giao con chung cho chị P nuôi nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P. Tại biên bản ghi nguyện vọng con chung vào ngày 16/12/2019 cũng như tại tòa, con chung tên Phan Thị Mỹ H có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị P. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận việc chị P không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.

[6] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, chị P có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim P được ly hôn anh Phan Thành L.

[2] Về con chung: Sau khi ly hôn, chị Lê Thị Kim P được nuôi con chung tên Phan Thị Mỹ H, sinh ngày 04/01/2004. Ghi nhận việc chị Lê Thị Kim P không yêu cầu anh Phan Thành L cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phan Thành L được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.

[4] Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.

[5] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị Lê Thị Kim P có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tiềm tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0007264 ngày 05 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HNGĐ-ST ngày 31/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:73/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về