Bản án 73/2018/HS-ST ngày 23/05/2018 về tội buôn bán hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 73/2018/HS-ST NGÀY 23/05/2018 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 23 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo: Đỗ T, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1995 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn T1(đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ: Lục Thị T, sinh năm 1999; con: có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/01/2018 đến ngày 10/02/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 23/01/2018, tại khu vực Km 11 + 600, Quốc lộ 1A, thuộc địa phận Thôn H, xã Đ, thành phố L, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phối hợp với phòng nghiệp vụ Công an tỉnh Lạng Sơn phát hiện Đỗ T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 12H1-….13 lưu thông theo hướng Lạng Sơn – Hà Nội, có biểu hiện nghi vấn vận chuyển hàng cấm, qua kiểm tra phát hiện 02 (hai) thùng bìa cát tông bên trong chứa pháo thành phẩm.

Tại biên bản xác định trọng lượng, chủng loại pháo ngày 23/01/2018 xác định số pháo bị thu giữ gồm có: 03 (ba) bánh pháo cuộn tròn màu đỏ, có diện 31cm x 6cm, tổng trọng lượng 03kg; 12 (mười hai) giàn pháo loại 36 quả/giàn, có diện 14,5 x 14,5 x 15cm, có trọng lượng 17kg; 01 (một) giàn pháo loại 100 quả/giàn, có diện 24 x 24 x 15cm, có trọng lượng 04kg. Tổng trọng lượng 24kg pháo thành phẩm.

Tại bản Kết luận giám định số 551/C54-P2 ngày 24/01/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận các mẫu vật pháo thu giữ của Đỗ T đều có chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra tiếng nổ.

Tại bản Cáo trạng số 72/KSĐT ngày 23/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đỗ T có hành vi phạm tội và lý lịch nêu trên ra trước Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn để xét xử về tội về tội "Buôn bán hàng cấm" theo điểm c, khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà bị cáo Đỗ T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Cụ thể: Từ tháng 11 năm 2017 bị cáo lên khu vực xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để làm thuê, trong quá trình làm thuê bị cáo quen biết với một người tên T2, bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ của T2, qua nói chuyện bị cáo biết T2 có pháo nổ để bán. Khoảng 19 giờ ngày 23/01/2018, tại đường mòn thuộc khu vực C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo mua với T2 02 thùng pháo gồm: 01 giàn pháo loại 100 quả/1 giàn, 12 giàn pháo loại 36 quả/1 giàn và 03 bánh pháo hình tròn, với số tiền 1.200.000 đồng. Sau khi mua được pháo bị cáo buộc 02 thùng pháo lên xe mô tô, biển kiểm soát 12H1-….13 rồi điều khiển xe về huyện H, tỉnh Lạng Sơn với mục đích bán kiếm lời. Khi bị cáo điều khiển xe đến khu vực thôn H, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ toàn bộ số pháo và các tang vật liên quan.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị L trong lời khai của mình bà cho biết: Năm 2017 gia đình bà mua chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 12H1-….13, bà là người bỏ tiền ra mua chiếc xe này, tuy nhiên do tuổi đã cao nên bà để cho Đỗ T đứng tên trong đăng ký xe. Bà không biết việc Đỗ T dùng chiếc xe này để vận chuyển pháo nổ bị Công an bắt giữ. Bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà chiếc xe để làm phương tiện đi lại cho cả gia đình.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ T phạm tội "Buôn bán hàng cấm". Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đỗ T từ 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bà Nguyễn Thị L 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh, bạc, đen, biển kiểm soát 12H1-….13. Xác nhận Cơ quan điều tra đã tiêu hủy toàn bộ số pháo thu giữ và đã trả cho bị cáo Đỗ T 01 chiếc điện thoại.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng bị thu giữ, kết luận giám định xác định số pháo thu giữ của Đỗ T đều có chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra tiếng nổ và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Bị cáo Đỗ T đã thực hiện hành vi buôn bán 24 kg pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh, buôn bán với mục đích để bán kiếm lời. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ T phạm tội "Buôn bán hàng cấm" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo Đỗ T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Các hành vi sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển, đốt pháo trái phép hiện nay vẫn diễn ra phức tạp đặc biệt là trong các dịp lễ hội, tết Nguyên Đán... Những hành vi này nếu không được phát hiện, ngăn chặn kịp thời thì có thể gây ra những hậu quả đối với sức khỏe, tính mạng, tài sản của nhân dân và gây ảnh xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều hình thức tuyên truyền vận động nhân dân không tham gia buôn bán, tàng trữ, vận chuyển, đốt pháo nổ. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật và hám lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Chính vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật, nhằm giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời để đấu tranh phòng chung.

[4] Để có căn cứ quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo; bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ đang nuôi con nhỏ sinh năm 2017. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

[8] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đỗ T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong thời gian tại ngoại bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật. Xét không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ để răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi bị cáo đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng của vụ án gồm có: Đối với số lượng pháo nổ bị thu giữ Cơ quan điều tra đã tổ chức tiêu hủy theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét; đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh, bạc, đen, biển kiểm soát 12H1-239.13. Theo lời khai của bị cáo và bà Nguyễn Thị L xác định chiếc xe này do bà Nguyễn Thị L bỏ tiền ra mua, việc bị cáo mang xe đi vận chuyển pháo bà Nguyễn Thị L không biết. Vì vậy cần trả lại chiếc xe này cho bà Nguyễn Thị L.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác của vụ án là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ T phạm tội: "Buôn bán hàng cấm".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/5/2018). Giao bị cáo Đỗ T cho Uỷ ban nhân dân xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Nguyễn Thị L 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh, bạc, đen, biển kiểm soát 12H1-….13, số khung C610GY37…, số máy G3D4E390…, xe cũ đã qua sử dụng, không có chìa khóa điện, không có gương chiếu hậu bên phải. (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 5 năm 2018).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2018/HS-ST ngày 23/05/2018 về tội buôn bán hàng cấm

Số hiệu:73/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về