Bản án 72/2020/HSST ngày 09/07/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 72/2020/HSST NGÀY 09/07/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 106/2020/QĐXXST-HS ngày 29/6/2020 đối với bị cáo:

Võ Văn S – sinh ngày 27/12/1989 tại tỉnh Bình Thuận;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Võ Thành N và bà Trần Thị Ngọc H bán, nơi cư trú: khu phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;

Tiền án: Tại bản án số 32/2014/HSST ngày 28/02/2014, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt bị cáo Võ Văn S 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 14/01/2015 chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam A2 – Tổng cục VIII. Tại bản án số 39/2016/HSST ngày 11/03/2016, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 57/2016/HSST ngày 12/4/2016 Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” , tổng hợp hình phạt với bản án 39/2016/HSST buộc Võ Văn S phải chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 36 tháng tù. Ngày 04/11/2018 chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam Huy Khiêm.

Nhân thân: bị cáo bị UBND phường B áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp phường theo Quyết định số 202/QĐ-UBND ngày 29/12/2011. Đến ngày 27/6/2012 chấp hành xong thời hạn giáo dục tại cấp phường. Ngày 30/5/2013, Công an phường B xử phạt hành chính bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Theo quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 13/02/2020 UBND phường B áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo Võ Văn S.

Bị cáo Võ Văn S hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Trần Thị L - sinh năm: 1969 (vắng mặt) Địa chỉ: khu phố B, phường T , thành phố P.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hồ Đình K – sinh năm 1982 (vắng mặt) Địa chỉ: khu phố B, phường P , Thành phố P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ sáng ngày 01/10/2019, Võ Văn S điều khiển chiếc xe đạp của mình đi quanh khu vực thành phố Phan Thiết với mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài. Khi S đi ngang trước quán cơm Trâm Anh thuộc khu phố D, phường T, thành phố Phan Thiết thì phát hiện chiếc xe đạp hiệu Martin của bà Trần Thị L đang dựng trước quán cơm Trâm Anh, không có người trông coi. S liền để chiếc xe đạp của mình bên kia đường rồi đi bộ sang quán cơm Trâm Anh, lén lút tiếp cận chiếc xe đạp Martin rồi dắt xe tẩu thoát. Sau đó, S điều khiển chiếc xe đạp vừa trộm cắp được đến tiệm xe đạp “K” gặp ông Hồ Đình K tại khu phố 3, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết là chủ tiệm xe này để bán. Tại đây, S nói vói ông K là xe của nhà do cần tiền nên đem đi bán, nghe vậy ông K đồng ý mua lại với giá 170.000 đồng, S cầm tiền và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, bà L đã đến Công an phường T trình báo vụ việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 262/KT-HĐĐG ngày 06/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản 4338 kết luận: 01 chiếc xe đạp loại Martin, màu trắng bạc đã bị tháo rời thành nhiều bộ phận trị giá 400.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe đạp loại Martin, màu trắng bạc đã bị tháo rời thành nhiều bộ phận thu giữ từ Hồ Đình K. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết đã trả lại tài sản trên cho bị hại Trần Thị L. Bà L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu S bồi thường gì về dân sự.

Đối với ông Hồ Đình K là người đã mua lại chiếc xe đạp Martin từ S, sau khi giao nộp lại tài sản thì ông K không yêu cầu S phải trả lại số tiền 170.000 đồng Đối với chiếc xe đạp Martin S dùng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định được chiếc xe đạp Martin này là của bà Võ Thị Thị là cô ruột của S nhưng bà Thị đã cho S chiếc xe đạp này từ lâu. Hiện chiếc xe đạp Martin này đã bị thất lạc, đến nay chưa truy tìm thấy.

Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 16/6/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố đối với bị cáo Võ Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự, tình tiết tăng nặng tái phạm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Võ Văn S từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên và đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố Phan Thiết, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thể hiện tại hồ sơ đều hợp pháp. Trước khi mở phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên HĐXX giải quyết vắng mặt đương sự.

[2] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn S đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau: Vào khoảng 07 giờ ngày 01/10/2019, lợi dụng lúc không có người trông coi, Võ Văn S đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe đạp hiệu Martin của bà Trần Thị L tại khu phố D, phường Thanh Hải, thành phố Phan Thiết. Tại bản kết luận định giá tài sản số 262/KT-HĐĐG ngày 06/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản 4338 kết luận:

01 chiếc xe đạp loại Martin, màu trắng bạc đã bị tháo rời thành nhiều bộ phận trị giá 400.000 đồng.

[3] Tại bản án số 39/2016/HSST ngày 11/03/2016, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản án số 57/2016/HSST ngày 12/4/2016 Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” , tổng hợp hình phạt với bản án 39/2016/HSST buộc Võ Văn S phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 36 tháng tù. Ngày 04/11/2018 bị cáo S chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam Huy Khiêm. Như vậy bị cáo có 3 tiền án , trong đó 2 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 39/2016/HSST ngày 11/03/2016 và bản án số 57/2016/HSST ngày 12/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, 1 tiền án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại bản án số 57/2016/HSST ngày 12/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo chưa được xóa án tích về 2 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” mà còn vi phạm nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.

[4] Ngày 30/5/2013 bị cáo bị Công an phường Bình Hưng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và đến nay bị cáo chưa thi hành quyết định. Thời điểm này Pháp lệnh về việc xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,bổ sung năm 2007, năm 2008) có hiệu lực thi hành. Tại Điều 69 Pháp lệnh về việc xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,bổ sung năm 2007, năm 2008) qui định thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính : “Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là một năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt; quá thời hạn này mà quyết định đó không được thi hành thì không thi hành quyết định xử phạt nữa nhưng vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định.

Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn”.

Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính của công an phường Bình Hưng là 1 năm kể từ ngày 30/5/2013. Tuy nhiên tại hồ sơ không thể hiện việc thi hành quyết định và cưỡng chế thi hành quyết định xử lý hành chính. Tại phiên tòa bị cáo khai không có trốn tránh thi hành, không thấy cơ quan nào bắt bị cáo nộp tiền này từ ngày 30/5/2013.

Khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh về việc xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,bổ sung năm 2007, năm 2008) qui định thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính: “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính” Như vậy đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/10/2019, bị cáo S xem như chưa bị xử lý hành chính, do đó HĐXX không áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Võ Văn S phạm tội trong trường hợp chưa được xóa án tích đối với tiền án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại bản án số 57/2016/HSST ngày 12/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết nên thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: HĐXX xem xét cho bị cáo khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự .

[6] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu sài, không bằng con đường lao động chân chính, đồng thời bị cáo Võ Văn S khai nhận là người nghiện ma túy nên đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó HĐXX cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và giáo dục bị cáo để trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

[7] Đối với ông Hồ Đình K là người đã mua tài sản trộm cắp từ bị cáo nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông K về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp. Đối với chiếc xe đạp bị cáo S dùng làm phương tiện phạm tội đã bị thất lạc, đến nay chưa truy tìm thấy nên chưa xử lý trong vụ án. Khi nào cơ quan điều tra tìm thấy sẽ xử lý sau.

[8] Về phần bồi thường thiệt hại về dân sự: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xét.

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

* Căn Cứ: điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

* Xử phạt: Bị cáo Võ Văn S 18 tháng tù (mười tám tháng tù). Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về án phí: áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

bị cáo Võ Văn S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/7/2019). Quyền kháng cáo bản án của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 72/2020/HSST ngày 09/07/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:72/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về