Bản án 72/2018/HNGĐ-ST ngày 18/06/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 72/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 253/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 58/2018/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thu Th, sinh năm 1994; thường trú: Số 155/A1, tổ T, khu phố B Th 1, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1995; thường trú: Số 394, khóm B, Phường S, thành phố Tr V, tỉnh Trà Vinh; tạm trú: Số 155/A1, tổ T, khu phố B Th 1, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2018 và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thu Th và anh Trần Văn H sau thời gian tự nguyện tìm hiểu, tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101/2015, quyển số 01/2015 ngày 19/10/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Th cùng chung sống với nhau tại số nhà 155/A1, tổ T, khu phố B Th 1, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu chị Th và anh H sống rất hạnh phúc. Đến giữa năm 2017, hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng không thể hòa hợp được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị Huỳnh Thị Thu Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn H.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Chị Huỳnh Thị Thu Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị Huỳnh Thị Thu Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng, bị đơn anh Trần Văn H đã được Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập tham gia tự khai vào ngày 19/4/2018; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 07/5/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 01/6/2018 và ngày 18/6/2018, nhưng anh Trần Văn H vắng mặt không có lý do.

- Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ngày 04/5/2018 tại UBND phường B A, thị xã D A thể hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phường B A không tiếp nhận thông tin từ cơ sở phản ánh về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị Thu Th và anh Trần Văn H, đồng thời không tiếp nhận đơn yêu cầu hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh H.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, chị Th và anh H có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn trong một thời gian dài, không thể hàn gắn. Do đó, chị Th khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh H là có căn cứ. Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về điều kiện khởi kiện: Chị Huỳnh Thị Thu Th khởi kiện anh Trần Văn H về việc yêu cầu được ly hôn nên đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Trần Văn H có đăng ký tạm trú và đang sinh sống tại số nhà 155/A1, tổ T, khu phố B Th 1, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu Th có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn H được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ 02 lần vào các ngày 01/6/2018 và ngày 18/6/2018 nhưng đều vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thu Th và anh Trần Văn H là vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101/2015, quyển số 01/2015 ngày 19/10/2015 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị Th xác định trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được với nhau và yêu cầu được ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Trần Văn H đến làm việc nhưng anh H đều vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh H cũng không có văn bản nào thể hiện thiện chí đưa ra phương pháp hàn gắn mối quan hệ giữa anh và chị Th nên có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị Th và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Th yêu cầu được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí ly hôn: Chị Huỳnh Thị Thu Th phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu Th đối với bị đơn anh Trần Văn H.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thu Th được ly hôn với anh Trần Văn H (Giấy chứng nhận kết hôn số 101/2015, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương cấp ngày 19/10/2015).

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Huỳnh Thị Thu Th không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Thu Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019058 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 72/2018/HNGĐ-ST ngày 18/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:72/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về