Bản án 714/2020/HC-PT ngày 27/11/2020 về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 714/2020/HC-PT NGÀY 27/11/2020 VỀ HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 377/2020/TLPT-HC ngày 4 tháng 9 năm 2020 về việc “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2020/HC-ST ngày 03/07/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3947/2020/QĐ-PT ngày 26/10/2020, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Trần Văn L; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (có mặt).

- Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ; địa chỉ: Đường 23/3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lại Văn C, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt).

3. Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt).

4. Ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt).

5. Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - Chi nhánh tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Số 429, đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Nam H - Chuyên viên thu hồi nợ (Văn bản ủy quyền ngày 16/11/2020, có mặt).

- Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31-10-2019, trong quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện là ông Trần Văn L trình bày:

Gia đình ông Trần Văn L sử dụng ổn định diện tích đất 10.038,5 m2 tại thôn B, xã Đ, huyện Đ. Khoảng tháng 8 năm 2019, ông L đến Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) xã Đ, huyện Đ để làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ), thì biết diện tích đất trên đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số CE 112867, thửa đất số 02, tờ bản đồ 127 cho gia đình ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ. Ngày 14-10-2019, gia đình ông L làm đơn kiến nghị đến UBND huyện Đ về việc cấp chồng lấn thửa đất của gia đình ông cho ông T.

Ngày 24-10-2019, UBND huyện Đ ban hành Thông báo trả lời đơn kiến nghị của gia đình ông như sau: Qua kiểm tra đối chiếu đo đạc bản đồ địa chính xác định UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số CE 112867 mang tên hộ gia đình ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị M đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là cấp sai vị trí thửa đất (không đúng đối tượng sử dụng đất). Do đó, ông nên ông L yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông: Hủy GCNQSDĐ số CE 112867 mang tên ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M.

Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện là ông Trần Văn T trình bày:

Kết quả kiểm tra, xác minh, đối chiếu hồ sơ đo đạc, bản đồ địa chính xác định việc UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số CE 112867 cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, tại thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ là cấp sai vị trí thửa đất (không đúng đối tượng sử dụng đất). Tuy nhiên, do hộ ông Trần Văn T đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q; trú tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, đăng ký biến động ngày 10-5-2019 đến ngày 05-6-2019 ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q đã chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn T. Do vậy, đề nghị Tòa án căn cứ các quy định để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Đại diện theo ủy quyền của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông trình bày:

Ngày 28-11-2016, UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số CE 112867 cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, tại thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ. Ngày 13-5-2019 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Đ thực hiện thủ tục đăng ký biến động thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2 mang tên ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q; theo hồ sơ số 003676.CN.001 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-5-2019 giữa ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M với ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q. Ngày 05-6-2019 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Đ thực hiện thủ tục đăng ký biến động thửa đất trên mang tên ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M; theo hồ sơ số 003676.CN.002 trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng ngày 04-6-2019 giữa Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q với ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M. hiện nay ông Trần Văn L yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CE 112867 do UBND huyện Đ cấp cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, tại thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị H (vợ ông L): Đồng ý với nội dung trình bày của ông Trần Văn L.

Ông Đặng Quốc C, bà Lương Thị Ngọc Q trình bày:

Ông, bà không biết việc UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ cho ông T, bà M đối với thửa đất trên như thế nào. Tuy nhiên, ngày 10-5-2019 ông C, bà Q là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên của ông T, bà M. hiện nay, ông bà đang nhờ ông T, bà M đứng tên GCNQSDĐ để thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P (viết tắt NHTMCP P) - Chi nhánh Đắk Lắk.

Người đại diện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P - Chi nhánh Đắk Lắk (viết tắt OCB-Chi nhánh Đắk Lắk) là ông Đỗ Mạnh N trình bày:

Ngày 06-6-2019, Ngân hàng với ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M đã ký hợp đồng tín dụng số 0838/2019/HĐTD-OCB-CN. Theo đó, Ngân hàng đồng ý cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M vay số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn vay, lãi suất được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín dụng. Ông T và bà M đã ký giấy nhận nợ và nhận số tiền trên tại Ngân hàng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là 02 GCNQSDĐ gồm thửa đất số 44, tờ bản đồ số 96 (số BB 425757 do UBND huyện Đ cấp ngày 31-12-2009) và thửa đất số 02, tờ bản đồ số 127 (số CE 112867 do UBND huyện Đ cấp ngày 28-12-2009), đều tọa lạc tại: Thôn B, xã Đ, huyện Đ. Tính đến ngày 12-5-2020, ông T, bà M còn nợ Ngân hàng số tiền 525.000.000 đồng (nợ gốc 500.000.000 đồng và nợ lãi: 25.000.000 đồng). Do vậy, Ngân hàng đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp NHTMCP P - Chi nhánh Đắk Lắk.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2020/HC-ST ngày 03 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã quyết định:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 1 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L.

1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 112867, thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28-11-2016 cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M.

1.2. Hủy kết quả đăng ký biến động ngày 05-6-2019 đối với thửa 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ; theo hồ sơ số 003676.CN.002 trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng ngày 04-6-2019 giữa ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q với ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15/7/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần P - OCB (do ông Phạm Văn Bắc làm đại diện theo ủy quyền) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Cụ thể đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L vì cho rằng OCB là bên được pháp luật công nhận là bên thứ 3 ngay tình.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P là ông Phạm Văn Bắc vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp GCNQSDĐ ngày 28/11/2006 số CE 112867 thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại: Thôn B, xã Đ, huyện Đ cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M là cấp sai vị trí, không đúng đối tượng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Đơn kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P đúng về hình thức, nội dung và kháng cáo trong hạn luật định, nên kháng được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L, thấy rằng:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tòa án cấp sơ thẩm xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CE 112867 do UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M là quyết định hành chính và là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính là có căn cứ.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 24-10-2019, UBND huyện Đ ban hành Công văn số: 1428/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Trần Văn L. Ngày 31-10-2019, ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án yêu cầu Hủy GCNQSDĐ số CE 112867, thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại: Thôn B, xã Đ, huyện Đ mang tên ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính

[1.3] Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tính hợp pháp của Quyết định hành chính là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 112867 do UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M:

Tại “Biên bản làm việc” ngày 17-10-2019, giữa đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ, UBND xã Đ và ông Trần Văn L, ghi nhận: Đối chiếu với hồ sơ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Đ thì thửa đất hộ ông Trần Văn L sử dụng ranh giới rõ ràng, ổn định tại thửa đất 02, tờ bản đồ số 127, xã Đ. hiện thửa đất này đã cấp GCNQSDĐ cho ông Trần Văn T. Thực tế qua kiểm tra, đối chiếu hồ sơ đo đạc hiện trạng và bản đồ thì hộ ông Trần Văn T đang sử dụng thửa đất số 45, tờ bản đồ số 123, xã Đ, diện tích 7.447 m2 (thửa đất này gần kiền kề với thửa số 02, tờ bản đồ số 127 - bút lục số 41). Phòng Tài nguyên và Môi trường sẽ tham mưu UBND huyện Đ thu hồi GCNQSDĐ đã cấp sai vị trí và hướng dẫn các hộ có liên quan kê khai, đăng ký theo hiện trạng diện tích đất thực tế theo quy định của pháp luật (bút lục số 38).

Và tại Văn bản số: 1428/UBND-TNMT ngày 24-10-2019 của UBND huyện Đ về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Trần Văn L, có nội dung: UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số CE 112867 cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, tại thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ là cấp sai vị trí thửa đất (không đúng đối tượng sử dụng đất).

Đồng thời do không phát hiện việc cấp sai vị trí và không đúng đối tượng sử dụng đất nên ngày 13-5-2019 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ thực hiện thủ tục hành chính đăng ký biến động đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2 mang tên ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q; theo hồ sơ số 003676.CN.001 trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08-5-2019 giữa ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M với ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q. Ngày 05-6-2019 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ thực hiện thủ tục đăng ký biến động thửa đất trên; theo hồ sơ số 003676.CN.002 trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng ngày 04-6-2019 giữa Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q với ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M cũng là trái pháp luật.

Như vậy có căn cứ xác định GCNQSDĐ số CE 112867 do UBND huyện Đ cấp cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, tại thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là trái pháp luật. Tuy nhiên do ông L, bà M đã chuyển nhượng cho ông C, bà Q và ngược lại. Do đó, theo quy định tại khoản 5 Điều 87 của Nghị định số:

43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành chi tiết một số điều của Luật Đất đai năm 2013, thì UBND huyện không thu hồi GCNQSDĐ đã cấp trái pháp luật theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai. Việc xử lý thiệt hại việc cấp GCNQSDĐ trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định của Tòa án. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp GCNQSDĐ trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai năm 2013.

Do đó Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tuyên hủy GCNQSDĐ số CE 112867, do UBND huyện Đ cấp cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M ngày 28-11-2016 tại thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ; đồng thời hủy kết quả đăng ký biến động ngày 05-6- 2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ đối với thửa đất trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[2.2] Xét căn cứ kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P cho rằng người thứ ba ngay tình và yêu cầu được vận dụng Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao “V/v thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hướng dẫn số 64 của TAND Tối cao về giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hi u. Tuy nhiên người chuyển giao tài sản phải là chủ sở hữu tài sản. Theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật Dân sự quy định “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Như vậy quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được xem là quyền tài sản. UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp GCNQSDĐ sai đối tượng là Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, nên ông T, bà M không có quyền về tài sản là diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

[3] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P.

Tuy nhiên Ngân hàng TMCP P - Chi nhánh Đắk Lắk và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại do việc cấp GCNQSDĐ không đúng pháp luật gây ra đối với thửa đất 02, tờ bản đồ số 127 nêu trên theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 96, 97 và 98 của Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai năm 2013.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần P phải chịu tiền án phí hành chính phúc thẩm.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Toà án.

[1] Bác kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2020/HC-ST ngày 03 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Tuyên xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 1 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L.

1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 112867, thửa đất số 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28-11-2016 cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M.

1.2. Hủy kết quả đăng ký biến động ngày 05-6-2019 đối với thửa 02, tờ bản đồ 127, diện tích 10.038,5 m2, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ; theo hồ sơ số 003676.CN.002 trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng ngày 04-6-2019 giữa ông Đặng Quốc C và bà Lương Thị Ngọc Q với ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M.

[2] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P phải chịu 300.000đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001079 ngày ngày 23/7/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

124
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 714/2020/HC-PT ngày 27/11/2020 về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Số hiệu:714/2020/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:27/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về