Bản án 70/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D - TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 70/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 199/2017/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2017/QĐXX-ST ngày 17/8/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2017/QĐST-HNGĐ ngày 01/9/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Ánh L, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

- Bị đơn:Ông Trần Thanh T, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị Ánh L trình bày: Bà L và ông Trần Thanh T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Từ tháng 7 năm 2014, giữa bà L và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T ham mê cờ bạc, có mối quan hệ với người phụ nữ khác, trong cuộc sống chung hai bên không cùng quan điểm sống, luôn cãi vã, xung đột lẫn nhau dù cả hai đã cố gắng khắc phục, bỏ qua nhưng vẫn không hòa hợp được. Bà L và ông T đã không còn chung sống từ tháng 4 năm 2015 cho đến nay. Nay bà  L xác định không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà L và ông T có 01 con chung là Trần Thanh Tường Tr, sinh ngày 11/8/2013, bà L yêu cầu nuôi cháu Tr và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn ông Trần Thanh T, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vắng mặt nên không có lời khai.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà L vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Phát biểu tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D cho rằng Tòa án nhân dân huyện D đã tuân thủ, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Ánh L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần 2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Ánh L và ông Trần Thanh T tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình chung sống, giữa bà L và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, do hai bên không hòa hợp về tính tình, ông T có mối quan hệ với người phụ nữ khác, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Bà L và ông T không còn chung sống với nhau kể từ tháng 4 năm 2015, đến nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà L yêu cầu ly hôn ông T. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T vắng mặt mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, cho thấy ông T không muốn tiếp tục duy trì, hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà L nên bỏ mặc, không đến Tòa để tham gia tố tụng để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L. Xét cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông T có sự mâu thuẫn, mục đích hôn nhân khó có thể duy trì, hàn gắn lại nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà L, cho bà L được ly hôn ông T.

[3] Về con chung: Bà L và ông T có 01 con chung là Trần Thanh Tường Tr, sinh ngày 11/8/2013, bà L yêu cầu nuôi cháu Tr và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét cháu Tr là con gái, hiện bà L đang là người chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nên giao cháu Tr cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Hồ Thị Ánh L được ly hôn ông Trần Thanh T.

[2] Về con chung: Bà  Hồ Thị Ánh L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Thanh Tường Tr , sinh ngày 11/8/2013; ông T không cấp dưỡng nuôi con chung

Ông Trần Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[3] Về án phí: Bà  Hồ Thị Ánh L sẽ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0018121 ngày 01 tháng 06 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D; bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


124
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 70/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về ly hôn

Số hiệu:70/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về