Bản án 69/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 69/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1290/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1549/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19-4-2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ánh A, sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: số 9 tầng 2 B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Hồng Kông; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Lưu Đức E, sinh năm 1990; nơi cư trú: số 9 tầng 2 B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong Đơn xin ly hôn nhận ngày 20-12-2018, nguyên đơn là chị Lê Thị Ánh A trình bày.

Chị A và anh Lưu Đức E kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận D, thành phố Hải Phòng vào năm 2014. Sau khi kết hôn, chị A và anh E chung sống cùng bố mẹ anh E tại số 9 tầng 2 B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng. Ngay thời gian đầu chung sống, giữa chị A và anh E đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh E mải chơi, thường xuyên đe dọa tinh thần chị A, thậm chí đánh chị A ngay cả khi mang thai. Đến năm 2016, do mâu thuẫn căng thẳng nên chị A đã sang Hồng Kông làm ăn. Nay nhận thấy tình cảm với anh E không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị A yêu cầu được ly hôn với anh E.

Về quan hệ nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị A và anh E có một con chung là Lưu Gia G, sinh ngày 02-8-2014; hiện đang được anh E và bố mẹ đẻ của anh E nuôi dưỡng. Ly hôn, chị A đồng ý để anh E tiếp tục nuôi dưỡng con chung và chị A có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng cho đến khi con thành niên.

Về quan hệ tài sản chung: Chị A xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản ngày 16-01-2019, ngày 02-4-2019, bị đơn - anh Lưu Đức E trình bày:

Về quan hệ hôn nhân giữa anh E và chị A được xác lập đúng như chị A trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ, thường ngày. Sau đó do làm ăn thua lỗ nên chị A đã bàn bạc với anh E, chị A đi nước ngoài làm ăn nên anh E đồng ý. Đến tháng 3-2016, chị A sang Hồng Kông làm ăn. Trong thời gian sống xa nhau, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và anh E không còn liên lạc được với chị A. Nguyên nhân chính là do chị A không chung thủy, có quan hệ với người đàn ông khác. Nay chị A xin ly hôn, anh E nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, vợ chồng không cùng chung sống đã lâu nên anh E đồng ý.

Về quan hệ nuôi con chung: Anh E và chị A có 01 con chung như chị A trình bày. Con chung được anh E và bố mẹ đẻ anh E chăm sóc từ khi còn nhỏ cho đến nay. Khoảng một năm trở lại đây, thỉnh thoảng chị A có gửi tiền hỗ trợ anh E nuôi con chung. Ly hôn, nguyện vọng của anh E là được nuôi con chung, về tiền cấp dưỡng nuôi con chung anh E tự thỏa thuận với chị A.

Về quan hệ tài sản chung: Anh E xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, do đang sinh sống, lao động ở nước ngoài nên chị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh E vắng mặt, không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đứng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn giữa chị A và anh E đã sâu sắc, không còn khả năng khắc phục nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A; về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lưu Gia G, sinh ngày 02-8-2014 cho anh E trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Do không thể có mặt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, chị A đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị A. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị A.

[3] Anh E vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh E theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh E kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận D, thành phố Hải Phòng vào năm 2014 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh E, chị A chung sống cùng bố mẹ đẻ anh E. Ngay từ thời gian đầu chung sống, quan hệ vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và ngày càng sâu sắc kể từ sau khi chị A sang Hồng Kông sinh sống làm ăn. Nguyên nhân chính là do các bên bất đồng quan điểm sống và không còn lòng tin đối với nhau. Hiện vợ chồng đã sống ly thân và không còn tình cảm. Nay chị A có yêu cầu được ly hôn, anh E đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị A phù hợp với quan điểm của anh E; phù hợp với tình trạng thực tế gia đình và mối quan hệ giữa các đương sự, phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[5] Về quan hệ nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị A và anh E có một con chung là Lưu Gia G, sinh ngày 02-8-2014. Ly hôn, chị A và anh E đều thống nhất quan điểm giao con chung cho anh E trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện tại, con chung đang được anh E trực tiếp nuôi dưỡng, có sự hỗ trợ của bố mẹ đẻ của anh E. Chị A đang ở nước ngoài và trình bày, chưa có điều kiện để chăm sóc con chung nên cần chấp nhận quan điểm của anh E và chị A về việc nuôi con chung, giao con chung cho anh E được trực tiếp nuôi dưỡng - Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị A có quyền thăm nom con, anh E không được cản trở chị A thực hiện quyền này - Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình, về việc cấp dưỡng nuôi con chung, các bên thống nhất tụ thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

[6] Về quan hệ tài sản chung: Chị A và anh E thống nhất trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm:

[7] Chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật - Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ánh A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Ánh A được ly hôn với anh Lưu Đức E.

2. Về quan hệ nuôi con chung: Xử giao con chung là Lưu Gia G, sinh ngày 02-8-2014 cho anh Lưu Đức E được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung, các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

Chị Lê Thị Ánh A có quyền thăm nom con, anh Lưu Đức E không được cản trở chị Lê Thị Ánh A thực hiện quyền này. Chị Lê Thị Ánh A không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về quan hệ tài sản chung: Chị A và anh E thống nhất trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Ánh A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng ) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001546 ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị Ánh A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết anh Lưu Đức E có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trong thời hạn 01 tháng (Một tháng) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, chị Lê Thị Ánh A có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:69/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về