Bản án 69/2018/HS-PT ngày 30/08/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 69/2018/HS-PT NGÀY 30/08/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2018/TLPT-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018, đối với các bị cáo Trần Minh K, Võ Văn T; do án có kháng cáo của các bị cáo K, T và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2018/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

1/ Trần Minh K, sinh năm 1989; nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố N, phường Ninh T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh H và bà Đinh Thị T; anh chị em ruột: Có 01 người; vợ, con chưa có; tiền sự: Không có.

Tiền án: Tại Bản án hình sự số 62/2012/HSST ngày 17-7-2012 của Tòa án nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh xử phạt Trần Minh K 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 29-4- 2016. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05-12-2017 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Võ Văn T, sinh năm 1993; nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố N, phường Ninh T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị H; vợ: Phan Thị Đài T; tiền sự: Không có.

Tiền án: Tại Bản án hình sự số 62/2012/HSST ngày 17-7-2012 của Tòa án nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh xử phạt Võ Văn T 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 29-4-2016. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05-12-2017 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu phố N, phường Ninh T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại C: Luật sư Vương

Sơn H – Văn phòng luật sư S, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 14-8-2017, Võ Văn T, Phạm Trường S và Trần Minh K rủ nhau đến quán cà phê “ĐH” để uống nước . Sau đó, cả nhóm rủ nhau đến “Ma Thiên Lãnh” tổ chức nhậu nên K đi mua trái cây và về nhà lấy dao mang theo dùng để gọt trái cây; riêng T và anh S vẫn ngồi tại quán chờ K.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T và anh S nhìn thấy anh Nguyễn Thành C mang theo gà đi đá (cá độ ăn tiền) chạy ngang qua nên T rủ anh S đi xem và điện thoại gọi K cùng đến xem. T điều khiển xe mô tô chở anh S chạy theo anh C đến vườn cao su (gần cổng sau khu du lịch Núi Bà Đen), thuộc khu phố N, phường Ninh T, thành phố T. Tại đây, T thấy gà của anh C lớn hơn gà cáp đá độ nên T kêu anh S bắt kèo dưới 400.000 đồng, thắng gà của anh C 500.000 đồng, anh S ra cược (kèo) và hô lên xem có ai cá cược không nên làm anh C bực tức chửi tục và định đánh anh S thì được K, T can ngăn; anh C hỏi K“...muốn gì...”, K giải thích là do gà của anh C lớn hơn nên anh S cáp độ như vậy là đúng; anh C tiếp tục chửi tục và kêu K cho “...cái hẹn để đánh nhau...”. K không trả lời và bỏ đi xem đá gà; T và anh S cũng không tham gia cá cược; cả ba T, K và anh S cùng nhau xem đá gà, kết quả gà anh C thua độ.

Xem đá gà xong, T lên xe ngồi chờ chở anh S về. Lúc này anh C chạy đến đánh anh S nên anh S bỏ chạy về hướng T; T thấy anh C rược đuổi anh S, nên T lấy búa trong giỏ sách để trên xe (do T đi làm nghề điện nên mang theo dùng để đóng đinh) để đánh anh C. Thấy T cầm búa, anh C quay lưng bỏ chạy, T đuổi theo anh C. Lúc này, K ngồi trên xe đang nổ máy nghe mọi người hô “...thôi, ...thôi...”, nhìn lại thấy mọi người đuổi theo T nên K lấy dao đuổi theo. Trong lúc rượt đuổi, anh C và T cùng bị trượt gã, T cầm búa rướn người lên đánh hai cái trúng mắc cá bàn chân phải và ngón cái bàn chân phải của anh C. Anh C đứng dậy quay lại bỏ chạy tiếp về hướng của K đang chạy đến, K dùng dao chém anh C, anh C đưa tay lên đỡ nên trúng cổ tay trái, K chém tiếp xuống chân anh C trúng mé ngoài cẳng chân phải. Sau đó, T, K bỏ về; anh C được người dân đưa đi cấp cứu, điều trị đến ngày 18-8-2017 thì xuất viện.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 212/2017/TgT, ngày 15-11- 2017 của Trung tâm Pháp y, thuộc Sở Y tế tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thành C do thương tích gây nên là 43%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/ 2 0 1 8 /HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố T đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Võ Văn T, Trần Minh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: bị cáo Trần Minh K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05-12-2017.

Xử phạt: bị cáo Võ Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05-12-2017.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29 tháng 5 năm 2018, bị cáo Võ Văn T có đơn kháng cáo, với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 04 tháng 6 năm 2018, bị cáo Trần Minh K có đơn kháng cáo, với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 04 tháng 6 năm 2018, bị hại anh Nguyễn Thành C có đơn kháng cáo, với nội dung: đề nghị xử phạt bị cáo T, k về tội “Giết người”; nếu xử phạt bị cáo K, T về tội “Cố ý gây thương tích” với mức án mỗi bị cáo là 5 năm 6 tháng tù là quá nhẹ. Ngoài ra, bị hại C cho rằng anh S dùng đá đánh anh nhưng anh S không bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Về nội dung, bản án sơ thẩm xử phạt hai bị cáo Trần Minh K và Võ Văn T mỗi bị cáo 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh K, Võ Văn T và bị hại Nguyễn Thành C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo K, T đều xin được giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo và người bị hại đều xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

 [2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo, người bị hại, người làm chứng, có đủ cơ sở kết luận:

Xuất phát từ nguyên nhân mâu thuẫn trong việc cá cược đá gà giữa các bị cáo T, K, anh S với bị hại C; sau đó hai bên cự cải nhau và anh C dọa đánh anh S. Do bênh vực anh S nên bị cáo T đã dùng búa rược đuổi đánh anh C 01 cái trúng vào mắc cá bàn chân phải và 01 cái trúng vào ngón cái bàn chân phải. Riêng bị cáo K đã dùng dao chém anh C 01 cái trúng vào cổ tay trái và 01 cái trúng vào mé ngoài cẳng chân phải. Hậu quả để lại tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thành C do thương tích gây nên là 43%. Hành vi này có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Trần Minh K và Võ Văn T, phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.

Xét mối quan hệ giữa các bị cáo K, T với người bị hại không có mâu thuẫn với nhau từ trước, nhưng chỉ vì nguyên nhân vô cớ, cả hai bị cáo đã thực hiện hành vi dùng búa, dao là loại “hung khí nguy hiểm” để gây thương tích người bị hại; hành vi này “mang tính chất côn đồ”; nên cả hai bị cáo K, T phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do thương tích của bị hại Công là 43%, nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo K, T theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự, là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo K, T là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Xét nhân dân của các bị cáo K, T đều đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý; do đó lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với cả hai bị cáo để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

 [3] Xét kháng cáo của các bị cáo K, T: Cả hai bị cáo đều xin được giảm án nhưng các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới; do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của hai bị cáo.

Trong gia đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Trần Minh K đã tác động gia đình bị cáo K tự nguyện nộp thêm số tiền 7.238.750 đồng, để bồi thường cho người bị hại và tạm nộp tiền án phí. Xét thấy, tình tiết giảm nhẹ này đã được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng và tuyên phạt bị cáo K với mức án 05 năm 06 tháng tù là phù hợp, không nặng.

 [4] Xét kháng cáo của bị hại C và lời trình bày của Luật sư H: đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh K về tội “Giết người”, vì bị cáo K đã dùng dao là loại hung khí nguy hiểm để rượt đuổi bị hại đến cùng để gây thương tích cho bị hại C. Nếu xử phạt bị cáo K, T về tội “Cố ý gây thương tích” với mức án mỗi bị cáo 05 năm 06 tháng tù là quá nhẹ, chưa bảo đảm tính răng đe các bị cáo. Ngoài ra, anh S dùng đá đánh bị hại C nhưng anh S không bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Biên bản thực nghiệm điều tra, Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể và Bản kết luận giám định tỷ lệ thương tật của bị hại Nguyễn Thành C... Xét thấy, giữa các bị cáo K, T, với người bị hại không có mâu thuẫn với nhau từ trước; chỉ vì tức giận nên nhất thời phạm tội; với ý thức chỉ thực hiện hành vi gây thương tích cho anh C; không mong muốn tước đoạt mạng sống của người bị hại; dấu vết, tỷ lệ thương tích để lại không trúng vào điểm trọng yếu trên cơ thể của bị hại; nên hành vi này của các bị cáo chỉ đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cố ý gây thương tích”; cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 05 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, không nhẹ. Đồng thời, căn cứ các tài liệu, chứng cứ nêu trên đều không thể hiện anh Phạm Trường S có thực hiện hành vi tham gia gây thương tích cho anh C; Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát không xử lý đối với anh Phạm Trường S là có căn cứ.

 [5] Từ những phân tích nêu trên, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

 [6] Về án phí: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên các bị cáo K, T phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

 [7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh K, bị cáo Võ Văn T và bị hại Nguyễn Thành C.

3. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/ 2 0 1 8 / HS-ST ngày 22  tháng 5 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố T , tỉnh Tây Ninh

4. Tuyên bố các bị cáo Trần Minh K, Võ Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

5. Xử phạt: bị cáo Trần Minh K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05-12-2017.

6 Xử phạt: bị cáo Võ Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05-12-2017.

7. Án phí: Các bị cáo Trần Minh K, Võ Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Ghi nhận bị cáo Trần Minh K đã nộp thêm số tiền 7.238.750 đồng (theo Biên lai thu số 0000604 ngày 05-7-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh) để bồi thường cho người bị hại và tạm nộp tiền án phí.

8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


59
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 69/2018/HS-PT ngày 30/08/2018 về tội cố ý gây thương tích

    Số hiệu:69/2018/HS-PT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tây Ninh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:30/08/2018
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về