Bản án 69/2018/HNGĐ-ST ngày 29/05/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 69/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/05/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2018 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2018/QĐXX-ST ngày 27 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Ngọc N, sinh năm 1979 (có mặt) Địa chỉ: Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Ngô Bình D, sinh năm 1985 (vắng mặt) Địa chỉ: Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 08/3/2018 cũng như tại phiên tòa, chị Lý Ngọc N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lý Ngọc N và anh Ngô Bình D tự N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 3 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Thời gian chung sống do không hợp nhau, vợ chồng thường hay cự cãi, mâu thuẫn kéo dài nên chị và anh D đã ly thân từ khoảng tháng 5/2017 đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị N yêu cầu ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị N và anh D có 01 người con chung là cháu Ngô Cẩm T, sinh ngày 01/02/2010, hiện con chung do chị N nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung nhưng không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến khi xét xử tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Tại hồ sơ vụ án thể hiện chị N và anh D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Do cuộc sống hôn nhân giữa anh chị không còn hạnh phúc, chị N yêu cầu ly hôn với anh D nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị N và anh D được ly hôn. Con chung cần giao chị N tiếp tục nuôi dạy là phù hợp theo Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn là chị Lý Ngọc N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Ngô Bình D. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh D có địa chỉ tại Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh D nhưng anh D không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của chị D và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh D nhưng anh D vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh D theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị N và anh D tự N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 16/3/2010. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa chị N cho rằng thời gian chung sống giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh D. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và anh chị đã ly thân với khoảng thời gian từ khoảng tháng 5/2017 đến nay nên chị N yêu cầu ly hôn với anh D. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để chị N và anh D có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh D vắng mặt tại các lần hòa giải không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Lý Ngọc N và anh Ngô Bìh D được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Cháu tên Ngô Cẩm T, sinh ngày 02/12/2010. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa, chị N yêu cầu tiếp tục nuôi dạy cháu Tiên. Xét thấy, cháu T hiện do chị N nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Tại bản tự khai ngày 08/3/2018 cháu T có yêu cầu và N vọng được sống cùng chị N. Vì vậy, cần tiếp tục giao cháu Ngô Cẩm T cho chị N tiếp tục nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa, chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung: Chị N xác định thời gian chung sống vợ chồng chị không có tài sản chung nên không yêu cầu giải giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị N xác định không có nợ chung, vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng; Tại đơn xác nhận ngày 08/3/2018 của Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận vợ chồng chị N, anh D không có bị ai thưa kiện về nợ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lý Ngọc N phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14  ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chị Lý Ngọc N và anh Ngô Bình D được ly hôn.

2.Về con chung: Giao cháu Ngô Cẩm T, sinh ngày 02/12/2010 (giới tính nữ) cho chị Lý Ngọc N tiếp tục nuôi dạy. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh D không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lý Ngọc N phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 09 tháng 3 năm 2018 chị N có dự nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005327 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.


60
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2018/HNGĐ-ST ngày 29/05/2018 về ly hôn

Số hiệu:69/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về