Bản án 69/2018/HNGĐ-ST ngày 11/06/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 69/2018/HNGĐ-ST NGÀY 11/06/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 11/6/2018, tại Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Mỹ H - Sinh năm 1986

Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

Nơi ở hiện nay: Đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

Bị đơn: Anh Huỳnh Duy H – Sinh năm 1983

Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ H trình bày:

Chị Đặng Thị Mỹ H và anh Huỳnh Duy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn K, huyện K1, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2007. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng về quan điểm sống, anh H thường xuyên say xỉn, vợ chồng thường xuyên cãi vã và đánh đập nhau, vợ chồng đã nhiều lần hòa giải khắc phục mâu thuẫn nhưng không được. Từ tháng 10 năm 2017 đến này vợ chồng đã sống ly thân và không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, gần gũi với nhau. Nay chị Đặng Thị Mỹ H xét thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân với anh H. Vì vậy nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Huỳnh Duy H.

Về con chung: Chị Đặng Thị Mỹ H và anh Huỳnh Duy H có 02 con chung, gồm:

- Huỳnh Duy K - Sinh ngày 14/11/2007;

- Huỳnh Đặng Hồng A - Sinh ngày 28/6/2011.

Nguyện vọng của chị H là xin được trực tiếp nuôi dưỡng các con K, A cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Huỳnh Duy H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã tiến hành mở phiên họp để công khai các tài liệu chứng cứ, mở phiên hòa giải, mặc dù đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Huỳnh Duy H đều vắng mặt mà không có lý do. Vì vậy Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Huỳnh Duy H đồng thời xác minh tình trạng hôn nhân tại nơi cư trú của anh H, chị H để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về kết quả xác minh: Anh Huỳnh Duy H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Buôn Đ, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, anh H thường xuyên đi làm không có ở nhà. Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Đặng Thị Mỹ H và anh Huỳnh Duy H thì chính quyền địa phương không nắm rõ, nhưng hiện nay chị H và anh H đang sống ly thân nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử cũng như phía nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đặng Thị Mỹ H; cho chị Đặng Thị Mỹ H được ly hôn anh Huỳnh Duy H.

+ Về con chung: Giao cháu Huỳnh Duy K - Sinh ngày 14/11/2007 và cháu Huỳnh Đặng Hồng A - Sinh ngày 28/6/2011 cho chị Đặng Thị Mỹ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Huỳnh Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Huỳnh Duy H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Huỳnh Duy H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Chị Đặng Thị Mỹ H và anh Huỳnh Duy H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/7/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K1, tỉnh Đắk Lắk, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫnvà đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay. Tại phiên tòa chị Đặng Thị Mỹ H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Duy H.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị Đặng Thị Mỹ H và anh Huỳnh Duy H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Mỹ H, cho chị Đặng Thị Mỹ H được ly hôn anh Huỳnh Duy H.

+ Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Đặng Thị Mỹ H và anh Huỳnh Duy H có 02 con chung gồm: Huỳnh Duy K - sinh ngày 14/11/2007; Huỳnh Đặng Hồng A - sinh ngày 28/6/2011. Hiện nay các cháu K và A đang ở cùng với chị Đặng Thị Mỹ H và chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Mặt khác, qua xác minh ở địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy anh Huỳnh Duy H thường xuyên đi làm xa, không có ở nhà nhiều. Vì vậy Hội đồng xét xử nghĩ cần giao 02 cháu Huỳnh Duy K và Huỳnh Đặng Hồng A cho chị Đặng Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Huỳnh Duy H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết do đương sự không có yêu cầu.

+ Về án phí: Nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Mỹ H. Cho chị Đặng Thị Mỹ H được ly hôn với anh Huỳnh Duy H.

- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Duy K - sinh ngày 14/11/2007 và cháu Huỳnh Đặng Hồng A - sinh ngày 28/6/2011 cho chị Đặng Thị Mỹ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Huỳnh Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Huỳnh Duy H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết do đương sự không có yêu cầu.

- Về án phí: Chị Đặng Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí do Đặng Thị Mỹ H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0004902 ngày 25/12/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2018/HNGĐ-ST ngày 11/06/2018 về ly hôn

Số hiệu:69/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về