Bản án 69/2017/HNGĐ-ST ngày 19/12/2017 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 69/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/12/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện A, Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 342/2017/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Mai Anh T, sinh năm 1991; cư trú tại thôn H, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Đào Thị V, sinh năm 1993; cư trú tại thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, nguyên đơn là anh Mai Anh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Đào Thị V trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện A, Hải Phòng vào năm 2013. Sau khi kết hôn, anh và chị V về chung sống cùng gia đình anh tại thôn H, xã Đ, huyện A, Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng hai tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, nên thường xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình nội, ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 02 năm 2014 đến nay chị V đã về cư trú cùng với bố, mẹ đẻ chị V ở thôn C, xã Đ, cũng từ đó anh và chị V sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đào Thị V.

Về con chung và tài sản chung: Anh và chị Đào Thị V không có con chung và không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Đào Thị V: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị V để chị V đến Toà án nhân dân huyện An Dương giải quyết việc anh T xin ly hôn nhưng chị V đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với bị đơn đã không đến Tòa án ghi bản tự khai; không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do đã vi phạm các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn anh Mai Anh T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn chị Đào Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Mai Anh T và chị Đào Thị V.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Tuy chị Đào Thị V không đến Tòa án, không có quan điểm về việc anh Mai Anh T xin ly hôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập xác định anh Mai Anh T và chị Đào Thị V kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, Hải Phòng vào năm 2013. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh Mai Anh T và chị Đào Thị V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc anh Mai Anh T xin ly hôn là có cơ sở chấp nhận.

[3]. Về con chung: Anh Mai Anh T và chị Đào Thị V không có con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[4]. Về tài sản chung: Anh Mai Anh T có quan điểm anh và chị Đào Thị V không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Đào Thị V không có lời khai, vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy không có quan điểm của chị V về tài sản. Nên Tòa án không xem xét giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu, Toà án sẽ giải quyết việc chia tài sản bằng vụ án dân sự khác.

[4]. Về án phí: Anh Mai Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điều 147; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1 và Khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

-Căn cứ Điều 6; Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Anh T được ly hôn chị Đào Thị V.

2. Về án phí: Anh Mai Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Anh Mai Anh T đã nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn theo Biên lai thu tiền số 7350 ngày 17 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


89
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2017/HNGĐ-ST ngày 19/12/2017 về ly hôn

Số hiệu:69/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Lão - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về