Bản án 685/2020/HNGĐ-ST ngày 02/06/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 685/2020/HNGĐ-ST NGÀY 02/06/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 02 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2405/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Minh P, sinh năm 1980 Địa chỉ: số 348/14 đường V, tổ 8, khu phố 4, phường T, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Vo T, sinh năm 1980 Địa chỉ: 10 B Y, Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 17/01/2020 và bản tự khai ngày 20/02/2020, nguyên đơn ông Dương Minh P trình bày:

Ông và bà Vo T tự nguyện tìm hiểu kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 1400 quyển số 7 ngày 24/5/2013.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung ở Việt Nam được thời gian thì bà Vo T trở về Hoa Kỳ. Vợ chồng liên lạc với nhau qua điện thoại, thời gian đầu hạnh phúc bình thường. Đến năm 2016, giữa hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, luôn xảy ra cãi vã. Sau đó tình cảm rạn nứt dần, từ năm 2018 đến nay vợ chồng ít liên lạc, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm và trách nhiệm gì với nhau. Đến nay, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể duy trì cuộc hôn nhân được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: không có Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại Bản tự khai đề ngày 06/3/2020 của bị đơn bà Vo T được Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ chứng nhận ngày 11/3/2020 có nội dung như sau:

Bà và ông Dương Minh P kết hôn với nhau vào năm 2013 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 1400 quyển số 07 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Nay ông Dương Minh P yêu cầu ly hôn, bà đồng ý.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Dương Minh P, bị đơn bà Vo T vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, thủ tục thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và thủ tục xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ông Dương Minh P được ly hôn bà Vo T. Con chung: không có. Tài sản chung không có gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn ông Dương Minh P đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; bị đơn bà Vo T đang cư trú tại Hoa Kỳ, giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, Điều 464, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122, Điều 123, Điều 124 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông Dương Minh P và bà Vo T đều có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng.

2 [2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Ông Dương Minh P và bà Vo T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2013, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 1400, quyển số 07 ngày 24/5/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Theo lời khai của đôi bên thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến năm 2016. Thời gian bà Vo T ở nước ngoài vợ chồng liên lạc với nhau qua điện thoại. Sau đó, do vợ chồng bất đồng quan điểm, luôn xảy ra cãi vã nên tình cảm lạnh nhạt, việc liên lạc giảm dần từ năm 2018. Đến nay, ông P xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục cuộc hôn nhân được nữa, yêu cầu giải quyết ly hôn. Ý kiến bà Vo T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông P.

Nhn thấy, quá trình hôn nhân giữa đôi bên thực tế có xảy ra những bất đồng không thể dung hoà được, giữa vợ chồng không còn muốn tiếp tục sống chung với nhau, không còn sự quan tâm, chăm sóc, tôn trọng và giúp đỡ nhau. Xét, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Do đó, việc đôi bên có nguyện vọng chấm dứt quan hệ hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về con chung: Đôi bên thống nhất khai không có.

Về tài sản chung và nợ chung: ông Dương Minh P và bà Vo T đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng nguyên đơn chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, Điều 464, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 478, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 57, Điều 123, Điều 124, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Minh P được ly hôn bà Vo T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 1400, quyển số 07 ngày 24/5/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3 2. Về con chung: không có.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Dương Minh P và bà Vo T khai không có.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn)đồng ông Dương Minh P nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn)đồng ông P đã nộp tại Biên lai thu số AA/2019/0045581 ngày 04/02/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông P đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn ông Dương Minh P và bị đơn bà Vo T; ông Dương Minh P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, bà Vo T được quyền kháng cáo trong thời hạn 01(một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 685/2020/HNGĐ-ST ngày 02/06/2020 về ly hôn

Số hiệu:685/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về