Bản án 68/2020/HS-ST ngày 09/05/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG -THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 68/2020/HS-ST NGÀY 09/05/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 09 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 đối với:

Bị cáo Phạm Hải D; sinh năm 1999 tại Bắc Giang; hộ khẩu thường trú: số 54 khu G, thôn Y, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: không cố định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và con bà Nguyễn Thị D; gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/12/2019; tạm giam ngày 03/01/2020. Danh chỉ bản số 51, lập ngày 25/12/2019 tại Công an quận Hai Bà Trưng. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 16 giờ ngày 24/12/2019, có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0965671463 gọi vào số điện thoại 0349219122 của Phạm Hải D hỏi mua 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền ma túy đá nhưng D nói không có đủ, chỉ còn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ma túy đá. Nam thanh niên đồng ý mua và hẹn D giao ma túy tại khu vực ngõ 7 phố Tây Kết, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Sau đó, D đi đến khu vực cổng Bệnh viện TW Quân đội 108 – số 1 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Tại đây D đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết một túi ni lông ma túy đá với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, D cầm số ma túy mua được ở tay phải và đi bộ đến điểm hẹn để bán ma túy cho khách như đã thỏa thuận. Khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, khi D đi đến trước cửa số nhà 10 ngõ 7 phố Tây Kết, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng và đứng đợi khách mua ma túy đến thì bị Tổ công tác Công an quận Hai Bà Trưng kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, D tự giác giao nộp từ tay phải cho cơ quan công an một gói ni lông kích thước khoảng 1,5x1,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Tại chỗ D khai nhận là ma túy đá D mang đi bán cho nhưng chưa kịp gặp khách mua thì bị kiểm tra bắt giữ. Đây là lần đầu tiên D đi mua ma túy để bán cho người nghiện để kiếm lợi nhuận, nếu bán thành công số ma túy trên D được hưởng lợi số tiền là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của D một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng, có số imei 1: 356825070850599/01, số imei 2:356850070850597/01, bị vỡ góc dưới màn hình bên phải và số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong tang vật và yêu cầu D về trụ sở để làm rõ sự việc.

Ngày 24/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma tuý thu giữ của Phạm Hải D. Tại bản Kết luận giám định số 8536/KLGĐ-PC09 ngày 31/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội đã kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng 0,305 gam”.

Đi với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo: bị cáo khai không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngày 24/12/2019, Cơ quan điều tra đã tổ chức dẫn giải Phạm Hải D để xác định nơi D mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho D. Kết quả D xác định được địa điểm mua ma túy là khu vực trước cổng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 - số 1 Trần Hưng Đạo, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho D. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng không có căn cứ xác minh, xử lý.

Đi với nam thanh niên gọi điện hỏi mua ma túy của D: D khai không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0965671463 do nam thanh niên sử dụng thể hiện chủ thuê bao mang tên: Thị L; sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Chị L khai nhận không đăng kí hay sử dụng số điện thoại trên và không biết ai tên Phạm Hải D. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý. Về chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng: quá trình điều tra xác định đây là tài sản của D. Qua kiểm tra điện thoại thể hiện D có liên lạc trao đổi để mua bán ma túy.

Đi với số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng): quá trình điều tra xác định là của D, do lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSHBT-HS ngày 31/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố Phạm Hải D về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo D giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo thành khẩn khai báo, đã nhận thức, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Hải D và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý đã thu giữ, tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, trả lại bị cáo số tiền 20.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Hải D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo Phạm Hải D tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; căn cứ Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 24/12/2019, tại khu vực trước cửa số nhà 10 ngõ 7 phố Tây Kết, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, bị cáo Phạm Hải D đã có hành vi mua bán trái phép 0,305 gam ma tuý loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây bất bình và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Ma túy đang là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn bộ xã hội, Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Phạm Hải D phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân: Bị cáo Phạm Hải D không có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu tiên bị truy tố, xét xử nhưng xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như trên, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo: bị cáo khai không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không xác định được. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng không có căn cứ xác minh, xử lý là có cơ sở.

[6] Đối với nam thanh niên hỏi mua ma túy của bị cáo: bị cáo khai không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0965671463 do nam thanh niên đã sử dụng nhưng không xác định được. Do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý là có cơ sở.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng: quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo đã sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy, nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng): quá trình điều tra xác định là của bị cáo, do lao động mà có, không liên quan đến hành vi mua bán ma túy, nên cần trả lại cho bị cáo.

Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hải D phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt: Phạm Hải D từ 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt là ngày 24/12/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Hải D.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) bì giấy đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Phạm Hải D và giám định viên, bên trong có chứa 0,305 gam ma tuý loại Methamphetamine.

- Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng, có số imei 1: 356825070850599/01, số imei2: 356850070850597/01, bị vỡ góc dưới màn hình bên phải.

Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 26/3/2020 giữa Công an quận Hai Bà Trưng với Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.

- Trả lại bị cáo Phạm Hải D số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 19/3/2020 do Công an quận Hai Bà Trưng nộp vào tài khoản số 3949 0 1049415 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng tại Kho bạc Nhà nước quận Hai Bà Trưng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc Bị cáo Phạm Hải D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Phạm Hải D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2020/HS-ST ngày 09/05/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:68/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về