Bản án 68/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 68/2019/HS-ST NGÀY 21/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với:

Bị cáo Lê Văn C; sinh năm 1985 tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Lê Thị B; vợ, con: Chưa; tiền sự: Ngày 08/5/2019 bị Công an xã H, huyện L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp chó nuôi (Chưa chấp hành); tiền án: Không; nhân thân: Ngày 23/8/2010 Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 30/12/2012 Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp 24 tháng tù cho hưởng án treo của bản án ngày 23/8/2010; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2019 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Cao Thanh L, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

Ni có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1991. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Khu 6, phường S, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

Ngưi làm chứng: - Chị Trình Thị Th, sinh năm 1994. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Thanh Hoá

- Anh Lê Văn N, sinh năm 1970. Vắng mặt.

Đa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Thanh Hoá

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05h ngày 12/8/2019 Lê Văn C điều khiển xe môtô BKS 36U8-2663 chở Trình Thị Th về thôn M, xã M, khi đến địa phận xã P, huyện L, C đã nãy sinh ý định trộm cắp tài sản, C nói với Th “anh có hai cái bả chó, mình bây giờ đi đánh bả một con chó bán lấy tiền trả tiền phòng với tiền mua ma tuý”. Nghe C nói Th đồng ý, sau đó C dừng xe lại lấy trong cốp xe ra hai cái bả chó bỏ vào túi áo ngực của C đang mặc rồi tiếp tục đi về hướng UBND xã P để tìm chó đánh bả, khi C điều khiển xe môtô đến khu vực nhà văn hóa thôn G xã P thì phát hiện một con chó lông màu vàng của gia đình anh Cao Thanh L, C lấy trong túi áo ngực ra một cái bả chó ném về phía con chó, còn Th xuống xe giả vờ đi vệ sinh để cảnh giới, sau khi quan sát mọi người xung quanh không có ai và thấy con chó ăn phải bả nằm xuống đường C điều khiển xe môtô quay lại đón Th và nhặt con chó bỏ lên gác chân của xe để tẩu thoát, lúc này bà Lê Thị L là hàng xóm của anh L thấy liền hô “L ơi có người bắt chó nhà cháu này”, anh L từ trong nhà lấy xe môtô đuổi theo, C và Th bỏ chạy được một đoạn thì bị ngã xe, Th và C bị nhân dân bắt giữ. Thu giữ 01 xe môtô và trong cốp xe có 04 chiếc bì xác rắn màu cam và 01 túi nilon màu đen.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 34/KL-HĐĐGHS ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Hội đồng định giá kết luận: Tài sản định giá là 01 con chó nặng 9,5 kg trị giá 712.000 đồng (Bảy trăm mười hai nghìn đồng).

Đi với Trình Thị Th trong quá trình điều tra xác định hành vi của Trình Thị Th không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra Công an huyện L đã xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Ti bản cáo trạng số 65/CT-VKSHL ngày 25/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Về bồi thường dân sự: Chấp nhận gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc số tiền bồi thường cho anh Cao Thanh L là 712.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về vật chứng: Trả lại chiếc xe môtô biển kiểm soát 36U8-2663 nhãn hiệu SAPHIRE cho anh Nguyễn Hoàng H.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Ti phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Vào khoảng 05h giờ ngày 12/8/2019 Lê Văn C chở Trình Thị Th bằng xe môtô biển kiểm soát 36U8-2663 đến khu vực nhà văn hóa thôn G, xã P dùng bả chó để bắt trộm một con chó của gia đình anh Cao Thanh L. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt trị giá 712.000 đồng và ngày 08/5/2019 bị cáo đã bị C an xã H, huyện L xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản, do đó bị cáo phải chịu tình tiết định tội (Trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm). Như vậy hành vi của bị cáo Lê Văn C đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, lười lao động không chịu tu chí làm ăn mà muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, bị cáo đã lợi dụng chủ sở hữu không trông coi vật nuôi để chiếm đoạt tài sản, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phạm phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tác động với gia đình tự nguyện nộp tiền bồi thường về tài sản bị cáo đã chiếm đoạt. Do đó cần áp dụng các quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo tốt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Bị cáo có nhân thân không tốt, đã 02 lần xét xử do đó khi quyết định hình phạt cần xem xét đối với bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Trong vụ án này còn có Trình Thị Th thực hiện hành vi trộm cắp, do giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với Th là phù hợp.

[7] Về phần bồi thường đân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt gồm 01 con chó nặng 9,5 kg trị giá 712.000 đồng, bị cáo đã tác động với gia đình nộp lại số tiền trên tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, nay tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án dân sự.

[8] Về vật chứng: 01 xe môtô biển kiểm soát 36U8-2663 nhãn hiệu SAPHIRE màu sơn trắng bạc, đã cũ nát, không có gương, không chìa khóa, chiếc xe này bị cáo mượn của anh Nguyễn Hoàng H, anh H không biết bị cáo mượn xe dùng vào việc trộm cắp tài sản nên cần trả lại cho anh Nguyễn Hoàng H.

04 bì xác rắn màu cam, 01 túi nilon màu đen, 01 cục bả chó được bỏ trong túi nilon trắng là vật chứng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy

[9] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đim c khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tun bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 12/8/2019.

Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Cao Thanh L số tiền 712.000 đồng (Bảy trăm mười hai nghìn đồng).

Tiếp tục quy trữ số tiền 712.000 đồng (Do gia đình bị cáo nộp) để bảo đảm thi hành án dân sự, theo biên lai thu tiền số AA/01276 ngày 20/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Về vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Hoàng H 01 xe môtô biển kiểm soát 36U8-2663 nhãn hiệu SAPHIRE màu sơn trắng bạc.

Tch thu tiêu hủy 04 bì xác rắn màu cam, 01 túi nilon màu đen, 01 cục bả chó được bỏ trong túi nilon trắng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 04/CCTHA ngày 29/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L).

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn C chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:68/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hậu Lộc - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về