Bản án 68/2019/HS-ST ngày 15/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 68/2019/HS-ST NGÀY 15/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2019/HSST-QĐ ngày 27/9/2019 đối với bị cáo:

Vy Văn N, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 13 tháng 3 năm 1990 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn L, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Vy Thị H, sinh năm 1959; có vợ là Vy Thị N, sinh năm 1992 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 12/3/2013, bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, đã thi hành xong ngày 13/3/2013; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/6/2019 tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Quang H - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Bị hại: Anh Hồ Văn T, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Trần Văn T, sinh năm 1976. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vy Văn N sinh ngày 13/3/1990, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.

Khong 11 giờ ngày 20/6/2019, Vy Văn N sang nhà anh trai ruột là Vy Văn Q ở cùng thôn để mượn xe mô tô đi cửa khẩu T chơi. Đến khu cửa khẩu T, Vy Văn N để xe mô tô ở khu vực gốc nhãn, đồi K thuộc thôn N, xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn rồi đi chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Vy Văn N quay lại chỗ để xe thì không thấy xe đâu nên đã đi tìm xung quanh nhưng không thấy.

Khong 07 giờ 30 phút ngày 21/6/2019, Vy Văn N một mình đi bộ quanh khu vực cửa khẩu T để tìm xe mô tô bị mất và một người đàn ông tên A để xin sử dụng ma túy. Vy Văn N lên khu vực đồi K để tìm A nhưng không thấy, sau đó đi xuống khu vực gốc nhãn thì thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 12K3-27xx của anh Hồ Văn T sinh năm 1994, trú tại thôn L, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn dựng bên cạnh gốc nhãn không có ai trông giữ. Vy Văn N tiếp tục đi xuống chân đồi hướng về chùa T, khi đi đến cạnh một đống gạch, nhìn thấy một sợi dây điện màu đỏ dài khoảng 20cm ở dưới đất; lúc này Vy Văn N nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô trên nên nhặt sợi dây điện, dùng con dao gấp mang theo người cắt ngắn sợi dây, tuốt vỏ hai đầu để hở dây đồng, sau đó quay lại tiếp cận chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K3-27xx, cậy miếng ốp nhựa ở phần phía trước giá bảo hiểm khung xe và dùng sợi dây điện vừa cắt nối hai đầu của sợi dây điện với hai đầu dây của ổ khóa điện với nhau rồi đạp nổ máy xe. Sau khi xe nổ máy, Vy Văn N điều khiển xe đi về hướng thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến ngã 3 P, Vy Văn N rẽ vào đường thôn N, xã T3, huyện V, tỉnh Lạng Sơn khoảng 10m rồi cậy biển kiểm soát của chiếc xe ra, kẹp vào phía trước giá bảo hiểm phần khung xe rồi tiếp tục điều khiển xe đi về hướng thị trấn N và đi về nhà; khi đi đến đoạn thôn T, xã T4, huyện V, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn phát hiện thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - bạc, đã qua sử dụng, số máy 5C61077305, số khung C6107Y077305 và một số đồ vật sau:

+ 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy, biển số đăng ký 12K3-27xx;

+ 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Hồ Văn T;

+ 01 (một) biển kiểm soát số 12K3-27xx bằng kim loại;

+ 01 (một) đoạn dây điện màu đỏ dài 09 cm, hai đầu dây hở;

+ 01 (một) áo sơ mi giả bò màu xanh đậm mài rách một số chỗ;

+ 01 (một) quần nỉ dài màu đen cạp chun.

Ngày 22/6/2019, Cơ quan điều tra bắt giữ Vy Văn N và thu giữ 01 (một) con dao gấp bằng kim loại màu trắng, cả lưỡi dao và chuôi dao dài 17 cm, lưỡi dao nhọn dài 7,5 cm; bề mặt rộng nhất của lưỡi dao rộng 1,5 cm (dao đã qua sử dụng).

Ngày 21/6/2019, sau khi phát hiện bị mất xe, anh Hồ Văn T đã đến Đồn công an T2 trình báo sự việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐ ĐGTS ngày 21/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 12K3- 27xx, số máy 5C61077305, số khung C6107Y077305, có giá trị còn lại là 4.200.000 (bốn triệu hai trăm nghìn) đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về kết luận định giá.

Tại cơ quan điều tra và trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt: anh Hồ Văn T trình bày đã được nhận lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, 01 (một) đăng ký xe, 01 (một) giấy phép lái xe và 01 (một) biển kiểm soát số 12K3-27xx và không có yêu cầu gì.

Ti bản Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 03/9/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vy Văn N về Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vy Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vy Văn N từ 09 tháng đến 01 năm tù giam. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề nghị xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn dây điện màu đỏ dài 09 cm, hai đầu dây hở; 01 (một) con dao gấp bằng kim loại màu trắng, cả lưỡi dao và chuôi dao dài 17 cm, lưỡi dao nhọn dài 7,5 cm; bề mặt rộng nhất của lưỡi dao rộng 1,5 cm (dao đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi giả bò màu xanh đậm, mài rách một số chỗ và 01 (một) quần nỉ dài màu đen cạp chun; là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và vật không sử dụng được.

Người bào chữa cho bị cáo gửi bản bào chữa với nội dung nhất trí với quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát. Về mức hình phạt: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng được trợ giúp pháp lý; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp đã được thu giữ và trả cho bị hại; do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vy Văn N đều khai nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo. Tại lời nói sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/6/2019, tại khu vực đồi K thuộc thôn N, xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Vy Văn N đã có hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - bạc, biển kiểm soát 12K3-27xx của anh Hồ Văn T với mục đích để sử dụng làm phương tiện đi lại. Theo kết luận của hội đồng định giá, chiếc xe mô tô mà Vy Văn N lấy trộm trị giá 4.200.000 (bốn triệu hai trăm nghìn) đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của bị hại, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, bản vẽ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật, nhưng vì vụ lợi muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để bản thân sử dụng nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vy Văn N phạm Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì để có phương tiện cho việc đi lại của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; lần phạm tội này là lần đầu và tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; ngày 12/3/2013 bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, đã chấp hành xong vào ngày 13/3/2013; bị cáo nghiện ma túy từ năm 2017 cho đến nay, điều này thể hiện bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

[7] Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo Biên bản xác minh ngày 17/7 /2019 của Cơ quan điều tra và qua xét hỏi công khai bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy, không sở hữu tài sản có giá trị; vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01(một) đoạn dây điện màu đỏ dài 09 cm, hai đầu dây hở, 01 (một) con dao gấp bằng kim loại màu trắng, cả lưỡi dao và chuôi dao dài 17 cm, lưỡi dao nhọn dài 7,5 cm, bề mặt rộng nhất của lưỡi dao rộng 1,5 cm (dao đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi giả bò màu xanh đậm, mài rách một số chỗ và 01 (một) quần nỉ dài màu đen cạp chun là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và vật không sử dụng được. Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS; 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy, biển số đăng ký 12K3- 27xx; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Hồ Văn T; 01 (một) biển kiểm soát số 12K3-27xx bằng kim loại cho chủ sở hữu là anh Hồ Văn T là phù hợp với quy định.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại chiếc xe mô tô, đăng ký xe, giấy phép lái xe và biển kiểm soát của xe mô tô; bị hại không có yêu cầu gì; đại diện Viện Kiểm sát không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và người bào chữa cho bị cáo về về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định nên chấp nhận.

[12] Bị cáo là người bị kết án, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

n cứ vào khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Văn N 09 (chín) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 22/6/2019.

3. Về xử lý vật chứng:

Tch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn dây điện màu đỏ dài 09 cm, hai đầu dây hở; 01 (một) con dao gấp bằng kim loại màu trắng, cả lưỡi dao và chuôi dao dài 17 cm, lưỡi dao nhọn dài 7,5 cm, bề mặt rộng nhất của lưỡi dao rộng 1,5 cm (dao đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi giả bò màu xanh đậm, mài rách một số chỗ và 01 (một) quần nỉ dài màu đen cạp chun.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/9/2019).

4. Về án phí: Bị cáo Vy Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HS-ST ngày 15/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:68/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Văn Lãng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 15/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về