Bản án 68/2019/HSST ngày 12/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 68/2019/HSST NGÀY 12/06/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2019/HSST ngày 08/4/2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/QĐXX ngày 27/5/2019 đối với bị cáo:

Trần H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1985; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: đường N, phường T, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Họ tên cha: Trần N; Họ tên mẹ: Đặng M; Anh,chị, em: có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ: Trần T; Con: có 01 con, sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Lịch sử bản thân: Ngày 13/6/2006 Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”. (Bản án 71/2006/HSST); Bị cáo bị Tạm giam từ ngày 20/12/2018 (Bị cáo có mặt tại phiên toà)

Người bị hại: Chị M (vắng mặt)

Địa chỉ: Quốc lộ M, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/12/2018, Trần H điều khiển xe gắn máy Honda Airblade, biển số 59E1- 325.08 lưu thông trên đường D, phường H, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến trước siêu thị Ministop, địa chỉ số A đường D, phường H, quận Bình Thạnh, H nhìn thấy phía trước siêu thị có để nhiều xe gắn máy, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp xe gắn máy đem bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, H gửi xe Honda Airblade tại cửa hàng C, địa chỉ số B đường D, phường H, quận Bình Thạnh rồi đi bộ đến siêu thị Ministop dùng chìa khóa xe bẻ ổ khóa xe Honda wave, biển số 92N1-466.27 của chị M. Sau đó, H mang xe gắn máy trộm cắp được đến bãi giữ xe của chung cư M, đường C, phường Đ, quận 1 để gửi.

Sau khi phát hiện mất xe Honda wave, biển số 92N1-466.27, chị M đến Công an phường 25, quận Bình Thạnh trình báo sự việc mất tài sản. Công an phường 25, quận Bình Thạnh tiến hành trích xuất camera tại siêu thị Ministop phát hiện 01 nam thanh niên khoảng ngoài 30 tuổi, cao khoảng 1m67, dáng người mập, mặc quần kaki dài màu trắng, áo sơ mi tay dài màu xanh đen, đội nón kết màu xám đen, đeo khẩu trang y tế đến lấy chiếc xe của chị M. Trong quá trình truy xét, Công an phường 25, quận Bình Thạnh nhận được thông tin của anh Nguyễn Q, là bảo vệ tại cửa hàng C, số B đường D, phường H, quận Bình Thạnh cho biết trước đó có 01 thanh niên có đặc điểm giống với người thanh niên đã lấy xe của chị M gửi xe gắn máy Honda Airblade, biển số 59E1-325.08 tại cửa hàng C nhưng chưa thấy quay lại lấy xe.

Công an phường 25, quận Bình Thạnh tiến hành mật phục. Đến 02 giờ 40 phút cùng ngày, Trần H đến cửa hàng C để lấy xe gắn máy Honda Airblade thì bị Công an phường 25, quận Bình Thạnh kiểm tra hành chính, mời về trụ sở làm việc.

Tại Công an phường 25 và tại Cơ quan Điều tra – Công an quận Bình Thạnh, Trần H khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Tiến hành chỉ điểm, Cơ quan Công an đã thu hồi chiếc xe gắn máy của chị M.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 50/KLĐGTS-TCKH ngày 30/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh, kết luận: 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda wave, biển số 92N1- 466.27 có giá trị 13.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 58/Ctr - VKS ngày 03/4/2019 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Trần H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Trần H về tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 1 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh clip bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là chứng cứ vụ án nên đề nghị tiếp tục lưu hồ sơ.

- 01 chìa khóa xe dùng để bẻ khóa xe là công cụ để bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh đen, 01 quần kaki dài màu trắng, 01 nón kết màu xanh đen có ghi chữ DICKIES là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; 01 biển số 59E1-325.08. Qua xác minh thì biển số trên thuộc xe gắn máy FUNEOMOTO Trung Quốc do chị Nguyễn P đứng tên đăng ký xe và không có yêu cầu nhận lại biển số xe trên. Xét các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe gắn máy Honda Airblade, biển số 59E1-325.08. Qua xác minh số khung, số máy thì xe máy trên có biển số thật là 59T1-778.95 do anh Nguyễn D, sinh năm 1994, thường trú số A, đường V, phường C, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký xe. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng hiện tại Nguyễn D không còn ở địa chỉ trên. Cơ quan điều tra – Công an quận Bình Thạnh đã tiến hành đăng báo tìm người liên quan đến xe gắn máy trên nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc nên đề nghị tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, trường hợp không tìm được chủ sở hữu đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với camera ghi hình hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa; cho thấy: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/12/2018, tại trước siêu thị Ministop, địa chỉ số B đường D, phường H, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh Trần H lợi dụng đêm tối không người trông coi tài sản, đã lén lút thực hiện hành vi bẻ ổ khóa xe gắn máy hiệu Honda wave, biển số 92N1-466.27 của chị M để chiếm đoạt, sau đó bị bắt cùng tang vật là chiếc xe bị cáo đã chiếm đoạt. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 50/KLĐGTS-TCKH ngày 30/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh, kết luận: 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda wave, biển số 92N1-466.27 có giá trị 13.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã có hành vi lợi dụng đêm tối, bị hại sơ hở trong việc quản lý tài sản để lén lút tiếp cận, bẻ khóa xe của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát cùng tài sản chiếm đoạt, tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết luận định giá có giá trị là 13.000.000 đồng. Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, chỉ vì cần tiền tiêu xài lười lao động bị cáo đã cố ý phạm tội, gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Nhân thân của bị cáo năm 2006, đã bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 71/2006/HSST), mặc dù bản án này bị cáo đã được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đây là bài học để sửa chữa bản thân, lại tiếp tục phạm tội, cho thấy bản chất coi thường pháp luật nên cần phải áp dụng một mức phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi và nhân thân của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh clip bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là chứng cứ vụ án nên tịch thu lưu hồ sơ lưu hồ sơ.

- 01 chìa khóa xe để phá khóa xe là công cụ để bị cáo Hưng thực hiện hành vi phạm tội, 01 áo sơmi tay dài màu xanh đen, 01 quần kaki dài màu trắng, 01 nón kết màu xanh đen có ghi chữ DICKIES là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và 01 biển số 59E1-325.08 qua xác minh thì biển số trên thuộc xe gắn máy FUNEOMOTO Trung Quốc do chị Nguyễn Thị Phụng đứng tên đăng ký xe và không có yêu cầu nhận lại biển số xe trên. Xét các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe gắn máy Honda Airblade, biển số 59E1-325.08. Qua xác minh số khung, số máy thì xe máy trên có biển số thật là 59T1-778.95 do anh Nguyễn D, sinh năm 1994, thường trú số A, đường V, phường C, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký xe. Cơ quan điều tra – Công an quận Bình Thạnh đã tiến hành đăng báo tìm người liên quan đến xe gắn máy trên nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc. Tuy nhiên cần tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, trường hợp không có ai đến liên hệ thì tịch thu sung quỹ nhà nước

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh clip bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe, 01 áo sơ mi tay dài màu xanh đen, 01 quần kaki dài màu trắng, 01 nón kết màu đen ghi chữ DICDKIESS và 01 biển số 59E1-325.08.

- Tiếp tục đăng báo 02 kỳ để tìm chủ sở hữu đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda, số loại: Airblade, biển số 59E1-325.08 có Số khung: RLHJFF4618EY845410, Số máy: JF46E-5545466, loại xe: hai bánh từ 50-175 cm3, dung tích xi lanh: 124, số chỗ ngồi: 2, màu sơn: Đen. Nếu không ai đến liên hệ thì tịch thu sung quỹ nhà nước.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/4/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HSST ngày 12/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:68/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về