Bản án 68/2019/HS-ST ngày 11/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 68/2019/HS-ST NGÀY 11/10/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Tiến T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1976, tại xã Hồng An, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H1, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Trần Tiến P và Trần Thị T, có vợ là Đặng Hồng S (đã chết), có 01 con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04-9-1999 bị Tòa án nhân dân huyện H1, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 16-8-2005 bị Tòa án nhân dân huyện H1, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10-10-2007 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình quyết định đưa đi cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23-6- 2011 bị Tòa án nhân dân huyện H1, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29-7-2016 bị Tòa án nhân dân huyện H1, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 23-4-2017 chấp hành xong (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11-6-2019, đến ngày 14-6-2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình - được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng:

1. Anh Lê Văn K, sinh năm 1976, nơi cư trú: Thôn T, xã T1, huyện H1, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1970, nơi cư trú: Thôn T, xã T1, huyện H1, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 11-6-2019, tại khu vực cổng Đền Trần thuộc địa phận thôn T, xã T1, huyện H1, tỉnh Thái Bình; Công an huyện H1 bắt quả tang Trần Tiến T có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay phải 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục. T khai nhận đó là ma túy, loại Hêrôin, mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) ở thị trấn H với giá 400.000 đồng, mục đích để sử dụng. Cơ quan Công an huyện H1đã tiến hành niêm phong gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng nói trên trước sự chứng kiến của anh Lê Văn K và ông Nguyễn Xuân L. Ngoài ra còn thu giữ, quản lý của T 02 xi lanh, 02 ống novocain chưa qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 238/KLGĐ-PC09 ngày 12-6-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định thu của Trần Tiến T là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,3335 gam.

Bản cáo trạng số 75/CT-VKSHH ngày 18-9-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố Trần Tiến T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Tiến T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Tiến T như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tiến T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11-6-2019; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ gồm: Toàn bộ số ma túy thu của bị cáo Trần Tiến T là vật chứng của vụ án, sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 238/KLGĐ-PC09 ngày 12-6-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, 02 xi lanh và 02 ống Novocain chưa qua sử dụng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo Trần Tiến T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Sơ đồ hiện trường và bản ảnh vật chứng thu giữ của Trần Tiến T và Biên bản quản lý và niêm phong đồ vật tài liệu do Công an huyện Hưng Hà lập ngày 11-6-2019; Bản kết luận giám định số 238/KLGĐ - PC09 ngày 12-6-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người làm chứng anh Lê Văn K và ông Nguyễn Xuân L.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 13-6-2019 tại khu vực cổng Đền Trần thuộc địa phận thôn T, xã T1, huyện H1, tỉnh Thái Bình; Trần Tiến T có hành vi tàng trữ 0,3335 gam ma túy, loại Hêrôin, mục đích để sử dụng bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Tiến T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định như sau:

Điều 249 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo Trần Tiến T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo Trần Tiến T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu; bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do mắc nghiện ma túy bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc 0,3335 gam ma túy, loại Hêrôin Công an huyện Hưng Hà thu giữ ngày 13-6-2019, bị cáo T khai mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi với giá 400.000 đồng. Số tiền 400.000 đồng T sử dụng vào việc mua ma túy là của một người bạn nghiện tên L2 đưa cho bị cáo để mua ma túy cùng nhau sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà đã tiến hành xác minh, ngoài lời khai của T, không có tài liệu, chứng cứ nào để xác định người phụ nữ tên L đã đưa tiền cho T mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho T nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy Cơ quan Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thu giữ, quản lý của bị cáo Trần Tiến T, sau khi giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 238/KLGĐ-PC09 ngày 12- 6-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 02 xi lanh và 02 ống Novocain chưa qua sử dụng cần tịch cần tịch thu để tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Tiến T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tiến T 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11-6-2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ gồm: 0,3172 gam (Không phẩy ba nghìn một trăm bẩy mươi hai gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Trần Tiến T trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 238/KLGĐ-PC09, ngày 12-6-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 02 xi lanh và 02 ống Novocain.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20-9-2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Tiến T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Tiến T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HS-ST ngày 11/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:68/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hưng Hà - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về