Bản án 68/2019/HS-ST ngày 02/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 68/2019/HS-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2019/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST -HS ngày 10 tháng 7 năm 2019, quyết định hoãn phiên tòa số 34/2019/QĐ-TA ngày 23 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Sơn T, sinh năm 1990 tại C, H; nơi ĐKHKTT: Khu dân cư C 2, phường C, thành phố C, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa(học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T và con bà Nguyễn Thị H; có vợ: Trần Thị L; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2010; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 125/2017/HSPT ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt T 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, T chấp hành xong hình phạt của bản án nhưng chưa hết thời hạn xóa án tích.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 28/2/2013 của Công an phường S, thành phố C, tỉnh H.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1959

Địa chỉ: Khu dân cư C 1, phường C, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.

- Những người làm chứng:

1.Chị Nguyễn Hồng V, sinh năm 1993

Địa chỉ: Khu dân cư số 9, phường B, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960

Địa chỉ: Khu dân cư C 2, phường C, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.

3.Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1987

Địa chỉ: Khu dân cư C 2, phường C, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 2 giờ sáng ngày 03 tháng 02 năm 2019, Nguyễn Sơn T là người nghiện ma túy đi taxi đến khu vực chân cầu B thuộc huyện Q, tỉnh B mua của người đàn ông không quen biết 3.000.000đồng tiền ma túy, mục đích về sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, T về nhà chia nhỏ số ma túy ra một túi ni lông màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (6x9,5)cm, và hai túi ni lông màu trắng viền khóa màu xanh, kích thước lần lượt là (2x2,5)cm và (2 x2)cm. T cất giấu hai túi ni lông nhỏ này tại bờ tường đằng trước, giáp nhà chị Đoàn Thị T và bỏ một ít vào coóng để sử dụng nhưng T chưa sử dụng mà cất vào ngăn tủ trong nhà. Gói ma túy còn lại T giấu ở chân tường bên ngoài nhà, ngay dưới cạnh cửa sổ.

Khong 15 giờ cùng ngày, lực lượng Công an thành phố C kiểm tra, T sợ hãi vứt lại số tiền 900.000đồng trong túi và bỏ chạy về phía chân tường bên ngoài nhà, lấy chỗ ma túy giấu dưới cạnh cửa sổ cùng một số vật dụng khác phục vụ cho việc tàng trữ, sử dụng ma túy mang về phía vườn nhà ông Phùng Văn Đ, giáp với chỗ ở của T. Khi vừa chạy sang vườn nhà ông Đ, T bị ngã và bị bắt giữ. Thu giữ tại vị trí cách chỗ T ngã 01m thì đồ vật do T vứt ra: 01 cân điện tử; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, trên mặt ghi có ghi chữ SAMSUNG, 01 hộp giấy, màu xanh; 01 ống nhựa màu tím; 01 ống nhựa màu trắng; 09 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thướng (2,5x2)cm; 03 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước (2,1x1,8)cm; 02 túi ni lon màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (9,5x6)cm, bên trong chứa chất kết tinh màu trắng, nghi là ma túy; 01 túi ni lon màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước (3x3)cm, bên trong chứa 01 viên nén màu hồng, hình tròn đường kính 0,5cm và một số mảnh vỡ của viên nén, nghi là ma túy; 02 coóng thủy tinh; 01 bình thủy tinh. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Sơn T phát hiện, thu giữ trong ngăn tủ trong phòng các đồ vật: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 lọ thủy tinh, có nắp màu tím, trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút, bằng nhựa, màu xanh, dài khoảng 12 cm, một lỗ cắm coóng thủy tinh, trong bầu coóng có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi ni lon màu trắng, kích thước (10x7)cm, bên trong chứa 20 túi ni lon màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước giống nhau (2x2)cm.

Tại bản kết luận giám định số 102/KLGĐ-PC09 ngày 14 tháng 2 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì số 1, gửi đến giám định có tổng khối lượng: 0,836g là ma túy, loại Methamphetamine. Chất rắn(dạng tinh thể) mầu trắng niêm phong trong phong bì số 3, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 6,877g là ma túy, loại Methamphetamine. Viên nén mầu hồng và các mảnh vỡ nhỏ của viên nén có tổng khối lượng 0,168g là ma túy, loại Methamphetamine. Chất rắn(dạng tinh thể) mầu trắng trong bầu coóng thủy tinh niêm phong trong phong bì số 7, gửi đến giám định có khối lượng: 0,318g là ma túy, loại Methamphetamine.

Ti Cáo trạng số 63/CT-VKSCL ngày 29 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh H đã truy tố Nguyễn Sơn T về tội “Tàng trữ tráỉ phép chất ma túy” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sơn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo 5 năm 5 tháng đến 5 năm 8 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/4/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 7,328g và 01 coóng thủy tinh là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy màu xanh kích thước đáy hộp là (8x8)cm,kích thước lắp hộp là (9x9)cm, cao 5cm; 01 cân điện từ màu bạc phần trên nắp nhựa trong suốt mặt sau có dán tem ghi 200g/0.01g QC PASS; 02 túi ni long màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 túi ni long màu trắng viền khóa màu xanh bên trong chứa 20 túi nilong nhỏ viền khóa màu xanh; 01 túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ bên trong chứa 09 túi nilong nhỏ viền khóa màu xanh; 01 lọ thủy tinh nắp màu tím chấm trắng, trên đục 2 lỗ,một lỗ có gắn ống hút nhựa màu xanh dài 12 cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím dài 6,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,3cm;02 coóng thủy tinh; 01 bình thủy tinh không có lắp; 03 túi nilong màu trắng, viền khóa màu xanh, đều có kích thước (2,1x1,8)cm.

Về án phí: Bị cáo T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, VKSND thành phố C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Sơn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 03 tháng 02 năm 2019 tại nơi ở của Nguyễn Sơn T ở khu dân cư C 2, phường C, thành phố C, tỉnh H, Nguyễn Sơn T có hành vi cất giấu trái phép 8,199g là ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố C phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng nên đủ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng nhằm thỏa mãn cơn nghiện mà cất giữ ma túy bất hợp pháp và làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội tại bản án này, bị cáo T đã bị kết án tại bản án trước, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T có nhân thân xấu, đã từng phải đi chấp hành án tại trại giam nhưng vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích, mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện bị cáo, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Vì vậy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã thu giữ số ma túy hoàn lại sau giám định là 7,328g và 01 coóng thủy tinh là mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 102/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho hủy bỏ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với: 01 hộp giấy màu xanh kích thước đáy hộp là (8x8)cm,kích thước lắp hộp là (9x9)cm, cao 5cm; 01 cân điện từ màu bạc phần trên nắp nhựa trong suốt mặt sau có dán tem ghi 200g/0.01g QC PASS; 02 túi ni long màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 túi ni long màu trắng viền khóa màu xanh bên trong chứa 20 túi nilong nhỏ viền khóa màu xanh; 01 túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ bên trong chứa 09 túi nilong nhỏ viền khóa màu xanh; 01 lọ thủy tinh nắp màu tím chấm trắng, trên đục 2 lỗ,một lỗ có gắn ống hút nhựa màu xanh dài 12 cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím dài 6,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,3cm; 02 coóng thủy tinh; 01 bình thủy tinh không có lắp; 03 túi nilong màu trắng, viền khóa màu xanh, đều có kích thước (2,1x1,8)cm là vật chứng không có giá trị và không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, trên mặt ghi có ghi chữ SAMSUNG và số tiền 900.000đồng không phải vật chứng của vụ án, cơ quan điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho Nguyễn Sơn T - chủ sở hữu là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

[6] Trong vụ án, T khai mua ma túy của người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ, qua điều tra chưa xác định được người đàn ông này là ai, cơ quan điều tra tách ra để xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; đim h khoản 1 Điều 52 BLHS;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sơn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 5 năm 5 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Không đặt ra giải quyết.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

Tch thu cho tiêu hủy: 7,328 gam và 01 coóng thủy tinh là mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 102/KLGĐ-PC09 được niêm phong bởi 03 dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ ký niêm phong mẫu vật; 01 hộp giấy màu xanh kích thước đáy hộp là (8x8)cm,kích thước lắp hộp là (9x9)cm, cao 5cm; 01 cân điện từ màu bạc phần trên nắp nhựa trong suốt mặt sau có dán tem ghi 200g/0.01g QC PASS; 02 túi ni long màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 túi ni long màu trắng viền khóa màu xanh bên trong chứa 20 túi nilong nhỏ viền khóa màu xanh; 01 túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ bên trong chứa 09 túi nilong nhỏ viền khóa màu xanh; 01 lọ thủy tinh nắp màu tím chấm trắng, trên đục 2 lỗ,một lỗ có gắn ống hút nhựa màu xanh dài 12 cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím dài 6,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,3cm; 02 coóng thủy tinh; 01 bình thủy tinh không có lắp; 03 túi nilong màu trắng, viền khóa màu xanh, đều có kích thước (2,1x1,8)cm.

(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 30/5/2019 và ngày 01/7/2019).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Sơn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HS-ST ngày 02/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:68/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 02/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về