Bản án 68/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 68/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 390/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-11-2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trịnh Xuân M - sinh năm 1964.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1957.

Cùng trú tại: Thôn L, xã T, TP.Y, tỉnh Yên Bái.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07-10-2019; bản tự khai; các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Trịnh Xuân M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, TP.Y, tỉnh Yên Bái vào năm 1988 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xẩy ra xô sát. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng đã hết, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị H có 02 con chung là Trịnh Thế B sinh ngày 06-6-1989 và Trịnh Thế N sinh ngày 16-3-1993. Các cháu đã trưởng thành nên ông không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản, nợ chung: Ông không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/ 10/2019 bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn giữa bà và ông Trịnh Xuân M đúng như ông M đã trình bày. Trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà nghi ngờ ông M có quan hệ bất chính dẫn đến không còn tin tưởng nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng đã hết, ông M xin ly hôn bà nhất trí.

Về con chung: Bà và ông M có 02 con chung như ông M trình bày, nay các cháu đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản, nợ chung: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa. Những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Trịnh Xuân M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: ông Trịnh Xuân M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giải quyết về: “Ly hôn” giữa ông và bà Nguyễn Thị H trú tại: Thôn L, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái.

Các đương sự cùng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đưng sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Xuân M và bà Nguyễn Thị H có đăng ký kết hôn vào năm 1988 tại UBND xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái là hôn nhân hợp pháp. Ông bà đều thừa nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông M, bà H không còn tin tưởng nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên xẩy ra sô sát, nay ông bà cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông M, bà H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông M.

[3]. Về con chung: Ông Trịnh Xuân M và bà Nguyễn Thị H có 02 con chung là Trịnh Thế B sinh ngày 06-6-1989 và Trịnh Thế N sinh ngày 16-3-1993, đến nay đã trưởng thành nên ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản và nợ chung: Ông M, bà H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Các vấn đề khác.

- Về án phí: Ông Trịnh Xuân M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Xuân M được ly hôn bà Nguyễn Thị H.

2. Về án phí: Ông Trịnh Xuân M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ và số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0005138 ngày 08-10-2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Trịnh Xuân M, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản được tống đạt hợp lệ.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:68/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Yên Bái - Yên Bái
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về