Bản án 68/2018/HS-ST ngày 19/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 68/2018/HS-ST NGÀY 19/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 3 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2018/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2018/QĐXXST-HS, ngày 08/3/2018, đối với các bị cáo:

1. Ngô Thanh Ch;  sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ 8, phường V, Nha Trang, Khánh Hòa;  nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Việt C và bà Lê Thị Tr (chết năm 2010); tiền sự: Không;  nhân thân: Không;  tiền án:

- Bản án số 02/2017/HSST, ngày 07/01/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2007.

- Bản án số 111/HSST, ngày 15/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2015.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 28/6/2017 đến nay;  có mặt.

2. Huỳnh Tấn L;  sinh năm 1984;  nơi cư trú: Tổ 5, phường V, Nha Tranng, Khánh Hòa;  nghề nghiệp: Lao động tự do;  trình độ văn hóa: 12/12;  dân tộc: Kinh; giới tính: Nam tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Kim Đ (chết) và bà Nguyễn Thị X (chết); tiền sự: Không; nhân thân: Không; tiền án:

- Bản án số 38/2015/HSST, ngày 06/3/2015 của TAND thành phố Nha Trang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;  chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2015, đóng án phí ngày 23/8/2017.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 28/6/2017 đến nay;  có mặt.

* Bị hại: Công ty TNHH ML1

Địa chỉ: Số 333 Khu phố Hưng Lộc, phường Hưng Định, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện theo pháp luật:

1. Ông Lý Ngọc M – Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêmTổng Giám đốc

2. Ông Lý Huy S – Phó Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh Th;  sinh năm 1967;  địa chỉ: khu phố B, phường D, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

(Văn bản ủy quyền số 011/2017/UQ-TGĐ ngày 26/6/2017);  có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị X; sinh năm 1974

Địa chỉ: Tổ 11, phường P, Nha Trang, Khánh Hòa;  vắng mặt.

2. Bà Lê Thị Thanh Ch;  sinh năm 1971

Địa chỉ: Tổ 3, phường V, Nha Trang, Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 15/6/2017, Ngô Thanh Ch rủ Huỳnh Tấn L đi trộm cắp tài sản. L đồng ý và điều khiển xe máy hiệu Dream, biển số 79T2-6950 chở Ch đi lòng vòng xem ai sở hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến đoạn trước kho hàng của Công ty TNHH ML1, tại thôn H, xã V, Nha Trang, Khánh Hòa, Ch và L quan sát thấy không có người trông coi nên L đứng ngoài cảnh giới còn Ch phá chỗ tường rào bằng tôn, đột nhập vào kho lấy trộm và chuyển ra ngoài cho L 03 thùng hàng, đựng: 120 khay đường 10.5x 17cm, 48 thố chữ nhật 9.7cm + nắp, 08 thố nắp 1.8L. Sau đó, L và Ch chở 03 thùng trên về nhà Ch cất giấu. Đến khoảng 15h cùng ngày L mang bán cho chị Lê Thị Thanh Ch, ở chợ Vĩnh Hải, Nha Trang được 680.000 đồng. Số tiền này Ch và L mua ma túy sử dụng hết.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Ch và L tiếp tục đột nhập vào kho của Công ty ML1  nêu trên, lấy trộm được 06 thùng hàng đựng: 40 dĩa tròn ảo 22cm, 20 dĩa tròn ảo 26cm, 40 dĩa vuông lá 22cm, 20 dĩa vuông ảo 27cm, 36 thố + nắp 0.33L, 10 dĩa chữ nhật lá 22x13cm, 80 dĩa lót cơm 15.5cm, mang về nhà Ch cất giấu. Đến trưa ngày 16/05/2017, cả hai mang 06 thùng trên bán cho chị Nguyễn Thị X, ở chợ Đầm, Nha Trang được 3.500.000 đồng, số tiền này Ch và L mua ma túy sử dụng hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 195/TCKH ngày 28/6/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP. Nha Trang kết luận: 40 dĩa tròn ảo 22cm, 20 dĩa tròn ảo 26cm, 40 dĩa vuông lá 22cm, 20 dĩa vuông ảo 27cm, 10 dĩa chữ nhật lá 22x13cm, 120 khay đường 10,5x7cm, ; 80 dĩa lót cơm 15.5cm, 36 thố + nắp 0,33L, 08 thố + nắp 1,8L, 48 thố CN + nắp 9.7cm, có giá trị là: 15.294.000 đồng (Mười lăm triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 17/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Ngô Thanh Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, và bị cáo Huỳnh Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang trình bày luận tội: Qua tranh tụng tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang xét thấy cần sửa đổi một phần nội dung của Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 17/01/2018 cho phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa như sau:

Lúc khoảng 11 giờ, ngày 15/6/2017, Ch và L trộm cắp 03 thùng hàng của Công ty TNHH ML1,  gồm: 120 khay đường 10.5x 17cm, 48 thố chữ nhật 9.7cm + nắp, 08 thố nắp 1.8L.

Lúc khoảng 22 giờ cùng ngày, Ch và L trộm cắp 06 thùng hàng của Công ty TNHH ML1, gồm: 40 dĩa tròn ảo 22cm, 20 dĩa tròn ảo 26cm, 40 dĩa vuông lá 22cm, 20 dĩa vuông ảo 27cm, 36 thố + nắp 0.33L, 10 dĩa chữ nhật lá 22x13cm, 80 dĩa lót cơm 15.5cm.

Tuy nhiên, tổng giá trị tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 15.294.000 đồng. Nội dung sửa đổi nêu trên không làm thay đổi kết luận của Cáo trạng, không làm xấu hơn tình trạng của các bị cáo. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự 1999; xử phạt: Ngô Thanh Ch từ 24 đến 30 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự 1999; xử phạt: Huỳnh Tấn L từ 12 đến 15 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa xác định Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho Công ty TNHH ML1 một phần tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt, số tài sản còn lại Công ty không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xém xét về trách nhiệm dân sự của các bị cáo đối với bị hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị X và bà Lê Thị Thanh Ch có đơn xin xét xử vắng mặt và xác định không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên đề nghị không xem xét.

- Về việc xử lý vật chứng:

01 thanh sắt vặn vít hình chữ T thu giữ tại hiện trường vụ án không phải là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, xét đây là vật không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

01 xe máy hiệu Dream, BKS 79T2 – 6950, số khung G2UMAXP01630, số máy P50FMG001630, Cơ quan điều tra Công an thành phố Nha Trang đã thông báo tìm kiếm nhưng chưa xác định được chủ sở hữu, do đó cần giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố nha Trang tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Ngô Thanh Ch, Huỳnh Tấn L đã khai nhận toàn bộ hành vi của 02 lần trộm cắp tài sản tại kho hàng của Công ty TNHH ML1, ở thôn H, xã V, Nha Trang, Khánh Hòa vào lúc khoảng 11 giờ và 22 giờ ngày 15/6/2017 đúng như truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang. Các bị cáo không tranh luận, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại xác định tổng giá trị tài sản mà các bị cáo đã lấy trộm của Công ty Công ty TNHH ML1 là 15.294.000 đồng; giá trị tài sản đã thu hồi trả lại cho Công ty là 9.667.000 đồng; giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.627.000 đồng. Tuy nhiên đại diện của Công ty TNHH ML1 xác định không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho Công ty và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị X và bà Lê Thị Thanh Ch có đơn xin xét xử vắng mặt, xác định không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nha Trang và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X và bà Lê Thị Thanh Ch. Xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Về trách nhiệm hình sự:

Lời khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung truy tố của bản cáo trạng. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, có đầy đủ sức khỏe nhưng không chịu lao động mà cố ý thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của các bị cáo được thực hiện vào ngày 15/6/2017, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 15.294.000 đồng; bị cáo Ch có 02 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 và truy tố bị cáo L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Ngô Thanh Ch là kẻ chủ mưu, và là người trực tiếp, tích cực thực hiện hành vi phạm tội; Ch có nhân thân rất xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị kết án với 02 bản án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bản án sau Ch đã bị xét xử với tình tiết định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2015, chưa được xóa án tích, Ch lại tiếp tục lôi kéo, rủ rê bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo L khi nghe Ch rủ rê thì đồng ý, điều khiển xe máy chở Ch đi lòng vòng xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản, khi phát hiện có sự sơ hở của người quản lý tài sản, L đã cảnh giới để Ch đột nhập lấy trộm tài sản và tích cực cùng Ch thực hiện hành vi phạm tội; bản thân L cũng là đối tượng nghiện ma túy, có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Trong cùng một ngày, các bị cáo liên tiếp thực hiện hai lần trộm cắp tài sản: lần 1, lúc khoảng 11 các bị cáo lấy trộm 03 thùng hàng với tổng giá trị tài sản là 5.872.000 đồng; lần 2, lúc khoảng 22 giờ các bị cáo đã lấy trộm 06 thùng hàng với tổng giá trị là 9.422.000 đồng. Vì vậy, áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần (điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS) đối với bị cáo Ch và tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần, tái phạm (điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS) đối với bị cáo L, xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm khắc, phù hợp với vai trò, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo. Cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa, xác định không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị X và bà Lê Thị Thanh Ch có đơn xin xét xử vắng mặt và xác định không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về vật chứng vụ án:

01 thanh sắt vặn vít hình chữ T là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 xe máy hiệu Dream, biển kiểm soát 79T2 -6950, số khung G2UMAXP01630, số máy P50FMG001630, chưa xác định được chủ sở hữu nên giao lại cho Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, thông báo tìm kiếm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Các bị cáo Ngô Thanh Ch, Huỳnh Tấn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Ngô Thanh Ch, Huỳnh Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46;  điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999; xử phạt bị cáo Ngô Thanh Ch 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 28/6/2017.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999; xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 28/6/2017.

4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt vặn vít hình chữ T (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).

- Giao lại 01 xe máy hiệu Dream, biển kiểm soát 79T2 – 6950, số khung G2UMAXP01630, số máy P50FMG001630 (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang) cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang để tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

5. Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí tòa án;

Các bị cáo Ngô Thanh Ch, Huỳnh Tấn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị X, Lê Thị Thanh Ch có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2018/HS-ST ngày 19/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:68/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về