Bản án 67/2020/HS-PT ngày 25/05/2020 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 67/2020/HS-PT NGÀY 25/05/2020 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 39/2020/TLPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Nông Thị N, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2020/HS-ST ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa.

Bị cáo có kháng cáo: Nông Thị N, sinh ngày 30/8/1985.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại xóm ĐT 2 (nay là xóm ĐT), xã ĐT1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp kinh doanh; trình độ văn hóa lớp 9; dân tộc Tày; giới tính Nữ; không theo tôn giáo nào; quốc tịch Việt Nam; con ông Nông Chính Y và bà Phạm Thị T (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Văn H (đã chết) và 02 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh ngày 12/11/2019); không tiền án, tiền sự; không bị giam giữ ngày nào, nay tại ngoại;

có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên cử: Ông Vũ Văn C, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp tại nhà nghỉ HV thuộc xóm ĐT, xã ĐT1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên do Nông Thị N là chủ có biểu hiện chứa mại dâm, nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/7/2019, tổ công tác của Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Công an xã ĐT1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên kiểm tra hành chính nhà nghỉ HV phát hiện bắt quả tang 02 đôi nam nữ đang quan hệ tình dục, cụ thể: Tại phòng 203 có nữ bán dâm là Lê Thị M, sinh năm 1990 và nam mua dâm là Hoàng Văn T1, sinh năm 1977 đang để trần cơ thể quan hệ tình dục với nhau trên giường; vật chứng thu giữ tại phòng có 01 vỏ bao cao su và 01 bao cao su đã sử dụng, 01 bao cao su chưa sử dụng, thu giữ của M 50.000đ do T1 vừa cho. Tại phòng 204 có nữ bán dâm là Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 và nam mua dâm là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985 đang để trần cơ thể nằm với nhau trên giường; vật chứng thu giữ tại phòng có 02 bao cao su chưa sử dụng và số tiền 50.000đ.

Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Nông Thị N 720.0000đ và 01 điện thoại di động, thu giữ của M 01 điện thoại di động, thu giữ của L 01 điện thoại di động. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Thị N thu giữ một số vật chứng khác nghi có liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra xác định: Nông Thị N là chủ nhà nghỉ HV, có giấy phép kinh doanh. Do thu nhập từ hoạt động kinh doanh nhà nghỉ thấp nên N đã nẩy sinh ý định chứa mại dâm để thu lời bất chính. Khoảng đầu tháng 7/2019 Lê Thị M quê ở tỉnh Quảng Ninh và Nguyễn Thị L quê ở tỉnh Nam Định lên huyện ĐH làm ăn và ở trọ tại nhà nghỉ của N. Giữa N với M và L thỏa thuận N nuôi ăn, ở miễn phí cho M và L tại phòng 101 nhà nghỉ HV; khi có khách đến hỏi mua dâm thì N sẽ thu của khách 350.000đ/01 người/01 lần quan hệ tình dục rồi N sẽ bố trí, sắp xếp M hoặc L quan hệ tình dục với khách tại nhà nghỉ HV. Sau mỗi lần bán dâm xong, N trả cho người bán dâm (M hoặc L) 150.000đ, N được hưởng 200.000đ, còn người mua dâm cho thêm gái bán dâm thì người bán dâm được hưởng thêm số tiền này.

Khong 13 giờ ngày 25/7/2019 N đang ở tầng 1 nhà nghỉ HV thì có Nguyễn Duy H1 và Hoàng Văn T1 đến; H1 hỏi N là nhà có gái không, gọi cho 02 em, N trả lời là có. N vào phòng 101 gọi L và M ra cho H1 và T1 xem mặt; H1 hỏi giá thì N nói 350.000đ/01 người/01 lần quan hệ tình dục, H1 và T1 đồng ý. H1 đưa cho N 700.000đ tiền mua dâm của 02 người và 20.000đ tiền nước uống. N cầm tiền rồi bảo H1 và T1 lên phòng 203 và 204 của nhà nghỉ, tại mỗi phòng N để sẵn 02 bao cao su trên giường. Sau đó, N bảo M lên phòng 203, L lên phòng 204 để bán dâm. Khi T1 và M đang quan hệ tình dục ở phòng 203 còn H1 và L đang ôm hôn nhau ở phòng 204 nhưng chưa kịp quan hệ tình dục thì bị bắt quả tang như nêu trên.

Ngoài lần bị bắt quả tang nêu trên, Nông Thị N còn tự giác khai nhận thêm các lần chứa mại dâm trước đó, cụ thể như sau: Từ đầu tháng 7/2019 đến ngày 24/7/2019 N đã bố trí, sắp xếp cho Nguyễn Thị L 08 lần bán dâm cho khách thu được tổng số tiền 2.800.000đ, đã trả cho L 1.200.000đ, N được hưởng 1.600.000đ. Lê Thị M bán dâm cho khách 04 lần thu được tổng số tiền 1.400.000đ, đã trả cho M 600.000đ, N được hưởng 800.000đ. lời khai của bị cáo N phù hợp với lời khai của gái bán dâm Nguyễn Thị L, Lê Thị M. Với hành vi trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2020/HSST ngày 27/02/2020 Tòa án nhân dân huyện Định Hóa đã quyết định:

Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 327; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Thị N 04 (bốn) năm tù về tội "Chứa mại dâm". Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Phạt bổ sung Nông Thị N 10.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về truy thu tiền thu lời bất chính, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/3/2020 bị cáo Nông Thị N kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nông Thị N cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Đồng thời bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do cho rằng: Hiện nay bị cáo đã nộp toàn bộ tiền phạt bổ sung và án phí. Ngoài lần bị bắt quả tang ngày 25/7/2019, trong khi chưa ai phát hiện được những lần chứa mại dâm trước đó, nhưng bị cáo đã tự thú khai ra. Quá trình điều tra, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Hiện tại bị cáo không có chồng và đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn; bản thân chưa bao giờ bị kết án hay xử lý hành chính; đề nghị xem xét tạo điều kiện cho mẹ con bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên trong phần kết luận có quan điểm: Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội chứa mại dâm theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; nhưng cho rằng mức hình phạt 04 năm tù đối với bị cáo trong vụ án cụ thể này là có phần nghiêm khắc; bởi lẽ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo ngoài lần bị bắt quả tang chứa mại dâm ngày 25/7/2019 thì quá trình điều tra bị cáo còn khai nhận các lần chứa mại dâm trước đó, thể hiện ngoài việc thành khẩn khai báo thì bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Bị cáo khi phạm tội là phụ nữ có thai. Bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, chồng và bố mẹ đều chết, một mình nuôi con nhỏ. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ tiền phạt bổ sung và án phí sơ thẩm. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo; xử phạt bị cáo mức án từ 36 đến 42 tháng là phù hợp.

Người bào chữa cho bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý Vũ Văn C trong lời bào chữa nhất trí với phần kết luận của đại diện Viện kiểm sát, đặc biệt là tình tiết ngoài lần bị bắt quả tang thì bị cáo còn tự thú ra các lần chứa mại dâm trước đó, hiện tại bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, trong trường hợp này đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại cơ quan điều tra và tại các phiên tòa, bị cáo Nông Thị N khai phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai của gái bán dâm Nguyễn Thị L, Lê Thị M cùng nhiều tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định: Nông Thị N là chủ nhà nghỉ HV tại xóm ĐT, xã ĐT1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên, có giấy phép kinh doanh. Do thu nhập từ hoạt động kinh doanh nhà nghỉ thấp nên N đã nẩy sinh ý định chứa mại dâm để thu lời bất chính. Từ đầu tháng 7/2019 đến ngày bị bắt quả tang 25/7/2019 N đã bố trí, sắp xếp cho gái bán dâm Nguyễn Thị L và Lê Thị M nhiều lần bán dâm cho khách. Do đó, Nông Thị N bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội "Chứa mại dâm" theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nông Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đạo đức xã hội và gây dư luận xấu trên địa bàn. Do đó, việc xử lý nghiêm theo pháp luật đối với bị cáo là cần thiết để giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét trong vụ án cụ thể này, bị cáo ngoài lần bị bắt quả tang chứa mại dâm ngày 25/7/2019 thì quá trình điều tra, bị cáo còn tự giác khai nhận các lần chứa mại dâm trước đó, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của gái bán dâm Nguyễn Thị L và Lê Thị M, thể hiện bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; khi phạm tội là phụ nữ có thai; bị cáo là phụ nữ, hiện tại có hoàn cảnh rất khó khăn, chồng và bố mẹ đều đã chết, một mình nuôi 02 con nhỏ. Mặt khác thấy, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ tiền phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên, thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo, cố nhiên không thể cho bị cáo được hưởng án treo đối với loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.

[3] Với phân tích và nhận định trên, thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xét.

[5] Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt được chấp nhận, nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nông Thị N, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa về hình phạt tù đối với bị cáo như sau:

Áp dụng c khoản 2, khoản 5 Điều 327; điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nông Thị N 42 (bốn hai) tháng tù về tội "Chứa mại dâm". Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ghi nhận ngày 18/5/2020 bị cáo Nông Thị N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hóa 9.640.000đ tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên (đã chấp hành xong).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nông Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 25-5-2020.


34
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 67/2020/HS-PT ngày 25/05/2020 về tội chứa mại dâm

Số hiệu:67/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/05/2020
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về