Bản án 67/2019/HNGĐ-ST ngày 20/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 67/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/12/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 20 tháng 12 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 180/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L – sinh năm 1984 (có mặt).

Đa chỉ: Thôn 3, xã V, huyện S, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Huy C – sinh năm 1985 (vắng mặt).

Đa chỉ: Thôn 3, xã V, huyện S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 18/9/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Trịnh Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Huy C kết hôn ngày 08/12/2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, anh C thường xuyên uống rượu rồi về đánh đập chị, mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng hơn, chị và anh C tuy sống chung một nhà nhưng đã ly thân từ đầu năm 2013, không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Huy C.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Huy C có 02 con chung là Nguyễn Huy Trung K – sinh ngày 29/11/2009 và Nguyễn Huy Minh Đ – sinh ngày 10/10/2012. Sau khi ly hôn, chị L đề nghị giao cháu K cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Đ cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Theo bị đơn anh Nguyễn Huy C trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Trịnh Thị L kết hôn ngày 08/12/2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hoàn cảnh gia đình và chị L đã bỏ ra ngoài sống ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, anh vẫn đang còn tình cảm với chị L. Cho nên, anh không đồng ý ly hôn với chị L và xin được đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị Trịnh Thị L có 02 con chung là Nguyễn Huy Trung K – sinh ngày 29/11/2009 và Nguyễn Huy Minh Đ – sinh ngày 10/10/2012. Do anh không đồng ý ly hôn nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Do vụ án liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Phiên tòa ngày 26/11/2019, chị Trịnh Thị L với anh Nguyễn Huy C vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của đương sự :

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật. Nguyên đơn chị Trịnh Thị L và bị đơn anh Nguyễn Huy C đã chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục về tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Do vậy, Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự. Phiên tòa ngày 26/11/2019, chị L và anh C vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay anh C vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Huy C kết hôn ngày 08/12/2008 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện S, tỉnh Thanh Hóa, như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyện vọng xin ly hôn của chị L là hoàn toàn chính đáng, bởi cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không có hạnh phúc, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xung đột lẫn nhau, mâu thuẫn không thể giải quyết được. Hơn nữa, chị L đã sống ly thân anh C từ năm 2013 và bỏ ra ngoài ở từ tháng 9/2019 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Mặc dù anh C không đồng ý ly hôn và cho rằng vẫn còn tình cảm với chị L. Tuy nhiên, qua xác minh tại nơi cư trú và xem xét trên thực tế cuộc sống hôn nhân của vợ chồng cũng như quan điểm của anh C, chị L tại các phiên hòa giải thể hiện tình cảm vợ chồng đã thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thị L đối với anh Nguyễn Huy C.

[3] Về con chung: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Huy C có 02 con chung là Nguyễn Huy Trung K – sinh ngày 29/11/2009 và Nguyễn Huy Minh Đ – sinh ngày 10/10/2012. Xét thấy, cần giao cháu K cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Đ cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bởi, hiện nay cháu K đang ở cùng với chị L, cháu Đ đang ở cùng với anh C, được chị L, anh C chăm sóc, nuôi dưỡng và học tập ổn định. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án các cháu đã làm bản tự khai gửi cho Tòa án với nguyện vọng, cháu K xin được ở với chị L, cháu Đ xin được ở với anh C.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị L đề nghị: Chị và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với thực tế và đúng quy định, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản: Chị Trịnh Thị L và anh Nguyễn Huy C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý,sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị L. Cho chị Trịnh Thị L ly hôn anh Nguyễn Huy C.

* Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huy Trung K – sinh ngày 29/11/2009 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Huy Minh Đ – sinh ngày 10/10/2012 cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị L, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị L, anh C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

* Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2018/0005945 ngày 18/9/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị L đã nộp đủ án phí.

* Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, chị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 67/2019/HNGĐ-ST ngày 20/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:67/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 20/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về