Bản án 66/2021/HS-PT ngày 07/07/2021 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 66/2021/HS-PT NGÀY 07/07/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 07/7/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2021/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo Phạm Huy H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 26/04/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang , thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

Phm Huy H (tên gọi khác: Không) , sinh ngày 20/6/1994 tại tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Nơi cư trú: Thôn X, xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 10 /12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn O(c) và bà Lương Thị T (sinh năm: 1954). Có vợ là Y (sinh năm 1997) và 02 con, (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019); Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 18/11/2014, bị TAND tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

+ Ngày 21/5/2019, bị Công an phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau tại Quyết định số: 25/QĐ-XPHC.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Trần Kim T bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản ” theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án v à diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trn Kim T và Phm Huy H là bn bè quen biết với nhau ngoài xã hội.

Khong cuối tháng 6/2020, T đến tiệm sửa xe của H bán một xe mô tô hiệu Dream của mình cho H. Trong lúc bán xe, T thỏa thuận với H về việc mua bán xe không giấy tờ, xe do phạm tội mà có không thì H trả lời xe nào cũng mua và mua giờ nào cũng được nếu trong khả năng tài chính của H.

Trong tháng 7/2020, Trần Kim T rủ rê Trần Kim T1 cùng nhau thực hiện thêm 03 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng và huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam sau đó đem bán cho Phạm Huy H, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Vào trưa ngày 18/7/2020, Trần Kim T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô bán cho H lấy tiền tiêu xài nên rủ T1 cùng đi. Tại địa phận thôn Tuý Loan Tây, T và T1 đã chiếm đoạt xe Jupiter biển kiểm soát 43K1 – 034.xx, màu đen - bạc của ông Nguyễn Văn D dựng trên vỉa hè, trên xe có gắn chìa khóa. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T điều khiển xe chạy về nhà Phạm Huy H tại xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam . Tại đây, T bán xe cho H với giá 1.800.000đ. Sau khi mua xe Jupiter do T trộm cắp, H đã tháo rời các bộ phận xe bán phụ tùng và phế liệu cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 2.300.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 2: Vào trưa ngày 20/7/2020, Trần Kim T rủ Trần Kim T1 trộm cắp xe mô tô bán cho H lấy tiền tiêu xài. Khi đến QL1A đoạn qua thôn Phong Nam, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng , cả hai đã thực hiện việc trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 92N8 – 24xx, màu xanh của ông Nguyễn Xuân V dựng trên vỉa hè. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T điều khiển xe chạy về nhà Phạm Huy H tại xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tại đây, T bán xe cho H với giá 600.000đ. Sau khi mua xe Wave do T trộm cắp, H đã tháo rời các bộ phận xe bán phụ tùng và phế liệu cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 1.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 3: Vào sáng ngày 26/7/2020, Trần Kim T tiếp tục rủ Trần Kim T1 đi trộm cắp xe mô tô như những lần trước. Tại địa phận thôn Song Bình, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cả hai đã trộm xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 92E1 – 523.xx, có gắn chìa khóa trên xe của chị Võ Thị Thanh K để gần cây keo lá tràm. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T điều khiển xe chạy về xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tìm H để bán xe. Tại đây, T bán xe cho H với giá 1.900.000 đồng. Sau khi mua xe Sirius do T trộm cắp, H tháo rời các bộ phận xe bán phụ tùng và phế liệu cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 2.500.000 đồng. Số tiền này H đã tiêu xài hết.

Với nội dung trên, t i Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2021/HS-ST ngày 26/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Huy H phạm tội Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Huy H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Kim T, phần trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 07/5/2021, bị cáo Phạm Huy H có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc gia đình và chăm sóc mẹ già nằm một chỗ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2021/HS-ST ngày 26/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” điểm a khoản 2 Điều 173 BLHS với tình tiết “Có tổ chức” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức án 18 tháng tù mà cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Tại phiên toà bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Bị cáo Phạm Huy H giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc mẹ già đang bị bệnh nằm liệt giường nhiều năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phm Huy H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng tháng 6/2020, Trần Kim T đến tiệm sửa xe của Phạm Huy H bán một xe mô tô hiệu Dream. Trong lúc bán xe, T thỏa thuận với H về việc mua bán xe không giấy tờ hoặc xe do phạm tội mà có, thì H trả lời xe nào cũng mua và mua giờ nào cũng được nếu trong khả năng tài chính của H. Trong các ngày 18, 20 & 26 tháng 7 năm 2020, Trần Kim T và Trần Kim T1 đã sử dụng xe mô tô Exciter biển kiểm soát giả là 43D1 -834.xx đi đến các khu vực thuộc địa phận huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam để chiếm đoạt: 01 xe mô tô hiệu Jupiter, biển kiểm soát 43K1-034.xx của anh Nguyễn Văn D; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 92N8-24xx của anh Nguyễn Xuân V và 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 92E1-523.xx của chị Võ Thị Thanh K . Sau khi trộm được xe, T và T1 mang 03 xe nói trên đến bán cho Phạm Huy H với tổng số tiền 4.300.000 đồng.

Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 26/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Phạm Huy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Huy H, HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm, giữa các bị cáo có sự cấu kết chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có ; bị cáo Phạm Huy H mặc dù không trực tiếp tham gia vào hoạt động trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo có sự thỏa thuận, hứa hẹn từ trước với bị cáo T về việc sẽ tiêu thụ xe do bị cáo T phạm tội mà có, do vậy bị cáo đồng phạm tội với bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” . Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ , đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội; bản th ân bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội 2 lần trở lên. Do đó, đối với bị cáo phải xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo v à răn đe, phòng ngừa chung là cần thiết .

Xét Tòa án cấp sơ thm đã áp dụng đầy đủ các t ình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật, đồng thời đã xem xét đến nhân thân và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 18 (mười tám) tháng tù là mức án dưới khu ng hình phạt bị xét xử, là tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới phát sinh ; bị cáo phạm tội 2 lần trở lên nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo . Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên toà.

[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào : Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Huy H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Huy H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án .

2. Về án phí: Bị cáo Phạm Huy H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


23
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 66/2021/HS-PT ngày 07/07/2021 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:66/2021/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:07/07/2021
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về