Bản án 66/2020/DS-ST ngày 04/08/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 66/2020/DS-ST NGÀY 04/08/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2020/TLST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST-DS ngày 29/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2020/QĐST-DS ngày 17/7/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Đoàn Thị Mười H, sinh năm 1970 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh T.

Bị đơn: Đào Thị Thanh H, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 21/5/2020 bà Đoàn Thị Mười H trình bày: Do chỗ quen biết và tin tưởng nên ngày 21/7/2019 bà có cho bà Đào Thị Thanh H vay số tiền 26.000.000 đồng, khi vay bà H có viết, ký tên vào biên nhận nợ và hứa 01 tháng sau sẽ trả nhưng đến nay bà H không trả tiền nên bà yêu cầu bà H trả số tiền 26.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 24/6/2020 bà K chỉ yêu cầu bà H trả số tiền 21.000.000 đồng, yêu cầu trả ngay 5.000.000 đồng, còn lại 16.000.000 đồng bà K đồng ý cho bà H trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Bị đơn bà Đào Thị Thanh H xác nhận có nợ bà K số tiền 21.000.000 đồng và đồng ý trả, nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn bà xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà K yêu cầu bà H trả số tiền vay nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo qui định tại Điều 463 của Bộ Luật Dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Cai Lậy, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn bà H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt bà H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Tại đơn khởi kiện bà K yêu cầu bà H trả số tiền vay 26.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần sau khi án có hiệu lực. Tuy nhiên, trong quá trình gải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bà K chỉ yêu cầu bà H trả số tiền 21.000.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, yêu cầu của bà K là có căn cứ, bởi vì tại phiên hòa giải bà H thừa nhận có nợ bà K số tiền 21.000.000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng trả nợ nên bà xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng, yêu cầu này không được bà K đồng ý. Việc bà K cho bà H vay tiền, không có tính lãi là có lợi cho bà, nay bà không đồng ý trả ngay số nợ là muốn chiếm dụng vốn, cố tình kéo dài thời gian, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà K. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K.

[3] Án phí: Bà Đào Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 463 và Điều 357 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Mười H.

Buộc bà Đào Thị Thanh H có nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị Mười H số tiền 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà Đoàn Thị Mười H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Đào Thị Thanh H chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi tính theo mức lãi suất do pháp luật quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

2. Án phí: Bà Đào Thị Thanh H phải chịu 1.050.000 (Một triệu, không trăm năm mươi ngàn) đồng án phí sơ thẩm.

Hoàn lại cho bà Đoàn Thị Mười H số tiền 650.000 (Sáu trăm năm mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005422 ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2020/DS-ST ngày 04/08/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:66/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về