Bản án 66/2019/HSST ngày 18/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TNH SƠN LA

BẢN ÁN 66/2019/HSST NGÀY 18/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2019/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2019/QĐXXST-HS ngày 08/7/2019, đối với bị cáo sau đây:

Họ và tên: Giàng A D, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: Bản Pá M, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 02/12; con ông: Giàng A C; con bà: Sồng Thị L; vợ: Vừ Thị N; có 02 con: Lớn sinh 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 10 phút ngày 13 tháng 3 năm 2019, Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã N, huyện Sông Mã làm việc tại khu Bua C bản Pá M, xã N, huyện Sông Mã phát hiện Giàng A D có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ được 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng ngà (D khai nhận là Heroine). Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 túi nilon màu xanh và 01 điện thoại di động.

Ngày 14/3/2019, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: Số bột màu trắng thu giữ của D có khối lượng 0,17 gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu D.

Tại kết luận giám định số 593 ngày 15/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được 0,17 gam, loại Heroine.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 28/02/2019, D đang ở nhà ở khu Bua C bản Pá M, xã N, Sông Mã thì có một người đàn ông dân tộc Thái, tên X nhà ở bản Huổi S, Chiềng N, Mai Sơn đến chơi. Qua nói chuyện X hỏi D có mua Hồng phiến để sử dụng không, thì D nói có nên X lấy ra một túi nilon màu xanh chứa rất nhiều viên Hồng phiến, rồi bán cho D 50 viên với số tiền là 1.500.000 VNĐ, rồi X cho thêm D một gói Heroine gói bằng nilon màu trắng. Mua được ma túy Dế cất giấu số ma túy vào túi da và treo ở đầu giường ngủ, hàng ngày lấy ra sử dụng, đến ngày 13/3/2019 thì sử dụng hết số viên Hồng phiến, còn lại gói Heroine D giấu ở giá để đồ trong bếp. Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/3/2019 D đang ở nhà thì thấy tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Ban Công an xã N đến vận động, đưa D đi hỗ trợ cắt cơn nghiện. D đã tự nguyện khai nhận đang cất giấu một gói Heroine đồng thời D lấy gói Heroine giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với Giàng A D, thu giữ vật chứng.

Cáo trạng số: 64/CT-VKSSM ngày 18 tháng 6 năm 2019, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Giàng A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 15 đến 20 tháng tù. Xét hoàn cảnh khó khăn và bị can có chứng nhận hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo cùng các chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo trạng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo nhất trí và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

[3] Do mắc nghiện ma túy, bị cáo đã mua ma túy về sử dụng dần. Ngày 13/3/2019 tổ công tác đến vận động D để đi hỗ trợ cắt cơn nghiện, thì D đã tự nguyện giao nộp gói ma túy. Theo kết luận giám định là chất ma túy, khối lượng 0,17gam Heroine.

[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Giàng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và Truy tố tội phạm của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tự nguyện giao nộp vật chứng của vụ án; tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[7] Về số ma túy thu giữ được trong vụ án: Bị cáo khai mua được của một người tên Xn, trú tại bản Huổi S, xã C, huyện Mai Sơn. Quá trình điều tra xác minh tại bản Huổi Sàng, Chiềng Nơi không có người nào tên X nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để mở rộng vụ án. Cần chấp nhận.

[8] Vật chứng vụ án còn lại: 01 phong bì thư niêm phong; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu và 01 túi nilon màu xanh đều là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động tạm giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại.

[9] Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có giấy chứng nhận hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Giàng A D 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày (13/3/2019).

2. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì thư niêm phong màu trắng do bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước có ghi: “Vật chứng vụ: Giàng A D, SN 1989, trú tại bản Pá M, xã N, Sông Mã, Sơn La. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu”. Trên giấy dán niêm phong có dòng chữ “Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sông Mã, ngày 14/3/2019” và chữ ký của thành phần tham gia niêm phong cùng 02 (hai) hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

+ 01 (một) túi nilon màu xanh.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel có số Imel: 353511101209848 điện thoại đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2019/HSST ngày 18/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:66/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sông Mã - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về