Bản án 66/2018/HS-ST ngày 18/09/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 66/2018/HS-ST NGÀY 18/09/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 18/9/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - 24 Hoàng VănThụ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công kH vụ án Hình sự thụ L số 87/2018/TLST- HS ngày 21/8/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số21/2018/QĐXXST-HS ngày 05/9/2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trần Thế Xuân H. Sinh ngày: 17/01/1998 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Tổ 24 phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam. Con ông : Nguyễn Văn L (sống) và bà Nguyễn Thị Y (sống). Gia đình có H chị em, bị cáo là con thứ H trong gia đình; 

Tiền án: Chưa.

Tiền sự: Ngày 29/6/2017, bị đưa đi cai nghiện ma túy tại cơ sở xã hội BầuBàng, thành phố Đà Nẵng

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú số40/2018/HSST-LCĐKNCT ngày 21/8/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Quang Ph. Sinh ngày: 15/01/2000 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Tổ 03 phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông : Võ Văn Đ (sống) và bà Nguyễn Thị Minh  (chết). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;

Tiền án: Chưa.

Tiền sự: Ngày 07/02/2018, bị Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân: Tại Bản án số 73/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dânquận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử bị cáo Võ Quang Ph 06 (sáu) tháng tù vềtội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 Bộ luật hình sự. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngày 12/9/2018 bị cáo Võ Quang Ph bị bắt tạm giam để thi hành Bản án số73/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phốĐà Nẵng. Hiện có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại: Ông Bùi Kim L. Sinh năm 1991. Địa chỉ: K107/7 Hoàng Thúc Trâm, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14h00’ ngày 19/3/2018, Nguyễn Trần Thế Xuân H rủ Võ Quang Ph đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân thì Ph đồng ý. H điều khiển xe mô tô BKS 43D1-129.46 chở Ph đến K107/7 Hoàng Thúc Tr thuộc phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, phát hiện phòng trọ của ông Bùi Kim L đang mở cửa, không thấy ai bên trong, H nói Ph đứng bên ngoài cảnh giới còn H đột nhập vào bên trong tìm tài sản để trộm cắp. H thấy một chiếc ví da màu đen của ông Bùi Kim L nằm trên bàn phía bên phải, H lục ví trộm cắp 3.000.000đ (Ba triệu đồng) thì bị ông Bùi Kim L và vợ là bà Nguyễn Thị Thanh H đang nằm trên gác lửng phát hiện và truy hô, H bỏ chạy ra ngoài và tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, H làm rơi một đôi sandal màu xám và một chiếc nón bảo hiểm lưỡi trai màu đen. Số tiền trộm được H và Ph chia nhau tiêu xài cá nhân. Quá trình điều tra Nguyễn Trần Thế Xuân H và Võ Quang Ph thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen BKS 43D1-12946, số khung07079, số máy: 08273, đã qua sử dụng.

- 01 (một) nón thể thao màu đen có dán hình lá cờ và trái tim màu đỏ, có sao 05 cánh màu vàng bên trong đã qua sử dụng.

- 01 (một) đôi giày sandal màu xám, hiệu Nike có quai hậu màu đen, đã qua sử dụng.

* Xử L vật chứng:

- Ngày 20/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu xử L trả lại cho bà Trần Thị C (Sn 1963, trú tại tổ 30, phường A, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng): 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen BKS 43D1-12946, số khung 07079, số máy: 08273 (Bút lục: 12-13).

- Ngày 13/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu xử L trả lại cho Nguyễn Trần Thế Xuân H: 01 (một) nón thể thao màu đen có dán hình lá cờ và trái tim màu đỏ, có sao 05 cánh màu vàng bên trong đã qua sử dụng; 01 (một) đôi giày sandal màu xám, hiệu Nike có quai hậu màu đen, đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSHC ngày 20/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H và Võ Quang Ph về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạngtruy tố và đề nghị HĐXX:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,h,i s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H mức án từ 06 (sáu) tháng đến 9 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Võ Quang Ph mức án từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười H) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Tổng hợp hình phạt: Áp dụng Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX tổng hợp hình phạt đối với Bị cáo P từ 12 (mười H) đến 18 (mười tám)tháng tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập đến.

+ Về án phí: Án phí HSST các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa ông Bùi Kim L vắng mặt, nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 04/9/2018 ông L trình bày: Ông L xin HĐXX giám án cho H bị cáo vì ông L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đượctranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H và Võ Quang Ph đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 14 giờ 00 ngày 19 tháng 3 năm 2018, tại nhà trọ K107/7 Hoàng Thúc Tr thuộc phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Trần Thế Xuân H và Võ Quang Ph đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông ông Bùi Kim L số tiền 3.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

- Bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị đưa đi cai nghiện ma túy tại cơ sở xã hội Bầu Bàng, thành phố Đà Nẵng, nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện, vì muốn có tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Bị cáo đã rủ Bị cáo P thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người trực tiếp đột nhập vào nhà của bị hại để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Khi bị vợ của bị hại phát hiện bị cáo đã nhanh chóng tẩu thoát cùng với tài sản chiếm đoạt được.Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. HĐXX thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Bị cáo Võ Quang Ph là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện màđã thực hiện hành vi phạm tội. Vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Khi Bị cáo H rủ bị cáo đi trộm cắp tài sản thì Bị cáo P đã đồng ý. Tuy bị cáo không trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại, nhưng bị cáo đã đứng ngoài cảnh giới, tạo điều kiện cho Bị cáo H thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Khi bị vợ của bị hại phát hiện Bị cáo H chiếm đoạt tài sản và truy hô, bị cáo đã nhanh chóng chở Bị cáo H tẩu thoát cùng với tài sản chiếm đoạt được.Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắngtrong quần chúng nhân dân. HĐXX thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b,h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với Bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX thấy cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện.

Tại Bản án số 73/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử bị cáo Võ Quang Ph 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 Bộ luật hình sự. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bản án của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã có hiệu lực pháp luật. Ngày 12/9/2018 Bị cáo P bị bắt giam thi hành án. Do vậy, HĐXX thấy cần phải căn cứ Điều 55 và 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Võ Quang Ph.

* Về dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H và Võ Quang Ph đã bồi thường cho ông Bùi Kim L 3.000.000đ (ba triệu đồng). Ông L đã nhận số tiền bồi thường. Tại phiên tòa hôm nay, ông L vắng mặt nhưng ông không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H và Võ Quang Ph phạm tội"Trộm cắp tài sản".

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b,h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b,h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55và Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Quang Ph 06 (sáu) tháng tù.

- Tổng hợp hình phạt:

Bị cáo Võ Quang Ph phải chịu mức hình phạt của hai bản án : Bản án số 73/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử bị cáo Võ Quang Ph 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 Bộ luật hình sự và Bản án số 66/2018/HS-ST ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt bị cáo06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2018.

3. Án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo tronghạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.


46
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 66/2018/HS-ST ngày 18/09/2018 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:66/2018/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hải Châu - Đà Nẵng
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:18/09/2018
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về