Bản án 65/2020/HSST ngày 17/07/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 65/2020/HSST NGÀY 17/07/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2020/HSST ngày 28 tháng 04 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2020/QĐXXST-HS, ngày 27/05/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số:12/2020/QĐHPT, ngày 09/06/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số:13/2020/QĐHPT, ngày 23/06/2020 đối với bị cáo:

TRẦN VĂN T1, Sinh năm 1989, tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố 9, phường P. M, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; con ông Trần Văn L, sinh năm 1963 và bà Tăng Thị Kim L, sinh năm 1967. Anh chị em ruột có 04 người. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không Tiền sự:

- Ngày 29/11/2018, Trần Văn T bị Trưởng Công an phường P.M, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Trần Văn T đã nộp phạt xong.

Nhân thân:

- Ngày 10/01/2015, Trần Văn T bị Trưởng Công an thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Trần Văn T đã nộp phạt xong.

- Ngày 04/5/2017, Trần Văn T bị Trưởng Công an huyện Thuận Bắc xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Trần Văn T đã nộp phạt xong.

- Ngày 28/04/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn xử phạt 09 (Chín) tháng tù về “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số: 12/2020/HSST(Án đã có hiệu lực pháp luật).

Hiện bị cáo Trần Văn T đang chấp hành án tại Trại giam Sông Cái, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận trong vụ án khác (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại:

Ông Nguyễn Lê Đình H, sinh năm 1981( Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 7, phường P. M, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 7, phường P. M, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 03/11/2019, Phạm Ngọc T (sinh năm: 1981, trú tại:

Khu phố 7, phường P) rủ Trần Văn T2 tìm nhà dân sơ sở để trộm cắp gia cầm thì T1 đồng ý. Cả 02 đi bộ đến rẫy nhà anh Nguyễn Lê Đình H (sinh năm: 1981, trú tại: Khu phố 7, phường P. M, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm) thì nhìn thấy có 01 con gà nòi, lông màu đỏ - đen (màu tía), trọng lượng 2,6 kg; 01 con gà Hơ mông, lông màu trắng - đen, trọng lượng 01 kg; 01 con vịt xiêm, lông màu đen - trắng, trọng lượng 2,3 kg; 01 con gà ri, lông màu trắng, trọng lượng 0,6 kg, không có ai trông coi nên T1và T2 leo qua hàng rào lưới B40 vào bên trong chuồng bắt trộm số gà, vịt nêu trên rồi theo đường cũ ra ngoài. Sau đó, Thanh lấy 01 con gà nòi, 01 con gà Hơ mông, còn T1 lấy 01 con vịt xiêm và 01 con gà ri, rồi cùng nhau đem về nhà cất giấu.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Công an đã mời T1 T2 đến làm việc, T1T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và giao nộp toàn bộ số gà, vịt trên cho Cơ quan Công an xử lý.

Tại Biên bản định giá tài sản số 148/BBĐG ngày 26/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm kết luận: 01 con gà nòi, lông màu đỏ - đen (màu tía), trọng lượng 2,6 kg, trị giá:

210.000 đồng; 01 con gà Hơ mông, lông màu trắng - đen, trọng lượng 01 kg, trị giá: 90.000 đồng; 01 con vịt xiêm, lông màu đèn - trắng, trọng lượng 2,3 kg, trị giá: 100.000 đồng; 01 con gà ri, lông màu trắng, trọng lượng 0,6 kg, trị giá:

60.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số: 45/CT-VKS-PRTC, ngày 27 tháng 04 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố Trần Văn T1 về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn T1 và đề nghị Hội đồng xét xử cụ thể như sau:

Áp dụng: điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo Trần Văn T1 nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Biên bản định giá tài sản số 148/BBĐG ngày 26/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và các chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngày 29/11/2018, Trần Văn T1 đã bị Công an phường Phước Mỹ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vào khoảng 21 giờ ngày 03/11/2019, tại khu phố 7, phường Phước Mỹ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, T1 lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp gà, vịt của anh Nguyễn Lê Đình H với tổng trị giá:

460.000đ( Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan rang – Tháp Chàm truy tố bị cáo Trần Văn T1 về tội “trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức về hành vi của mình. Bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên phải xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 10/01/2015, bị Công an thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 04/5/2017, bị Công an huyện Thuận Bắc xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 28/04/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn xử phạt 09 (Chín) tháng tù về “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Đối với Phạm Ngọc T2 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm căn cứ điểm a, Khoản 1, Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trao trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Lê Đình H: 01 con gà nòi, lông màu đỏ - đen (màu tía), trọng lượng 2,6 kg; 01 con gà Hơ mông, lông màu trắng - đen, trọng lượng 01 kg; 01 con vịt xiêm, lông màu đen - trắng, trọng lượng 2,3 kg; 01 con gà ri, lông màu trắng, trọng lượng 0,6 kg là có cơ sở.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Lê Đình H đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T1, xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề xuất mức án là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về Án phí: Bị cáo Trần Văn T1phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 điều 56; điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T1 06(Sáu) tháng tù.

3. Tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sự sơ thẩm số 12/ 2020/HSST ngày 28/04/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận với hình phạt 06(Sáu) tháng tù của bản án ngày hôm nay. Buộc bị cáo Trần Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 (mười lăm)tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2020.

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/7/2020); vắng mặt người bị hại, người liên quan quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


3
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về