Bản án 65/2019/HS-ST ngày 27/06/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 65/2019/HS-ST NGÀY 27/06/2019 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2019/QĐXXST-HS ngày 10/6/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mông Văn H; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 16/10/1979; Tại: xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng; hộ khẩu thường trú: xóm T, xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: xóm T, xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; chức vụ Đảng chính quyền, đoàn thể: không; trình độ học vấn: 3/12; Bố: Mông Văn Đ, đã chết; Mẹ: Hà Thị N - sinh năm 1941; nghề nghiệp: làm ruộng; trú tại: xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Nông Thị G - sinh năm 1984, đã ly thân từ năm 2011; trú tại: xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Con: có một con sinh năm 2002; trú tại: xóm T, xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng. đình. Anh, chị, em ruột: gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con út trong gia Tiền án: 01 tiền án, ngày 18/12/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 31/01/2018.

Tiền sự: không.

Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 11/02/2019; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Lý Thị Nhung – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng; có mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Mông Thị N

Trú tại: xóm S, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 23 giờ 45 phút ngày 02 tháng 02 năm 2019 tại khu vực tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Cảnh sát 113 phòng PC06 Công an tỉnh Cao Bằng phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng đã bắt quả tang Mông Văn H (sinh năm 1979; trú tại: xóm T, xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng) có hành vi vận chuyển hàng cấm. Vật chứng thu giữ: 01 (một) bao tải màu xanh bên trong có chứa 12 (mười hai) hộp pháo hoa loại giàn 36 quả do Trung Quốc sản xuất; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 21K1-029.0H đã qua sử dụng; 01 (một) đăng ký xe mô tô số 002051 mang tên Hà Thị K; 01 (một) chứng minh nhân dân số 080495607 mang tên Mông Văn H.

Quá trình điều tra Mông Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: vào khoảng 18 giờ ngày 02 tháng 02 năm 2019, tại bờ sông thuộc địa phận xóm L, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng, sau khi làm thuê bốc hàng xong, Mông Văn H gặp 01 (một) người phụ nữ người Trung Quốc khoảng 40 tuổi không rõ tên, địa chỉ. Người phụ nữ này hỏi H: "Có mua pháo về chơi tết không?" thì H trả lời: "Còn có không? Cho xin mấy hộp xem nào". Nghe vậy người phụ nữ đó nói: "Lấy thì bán rẻ cho thôi, không cho được đâu", H đồng ý. Sau đó, người phụ nữ vào kho hàng cạnh đó lấy ra 01 (một) bao tải màu xanh bên trong có 12 hộp pháo hoa loại giàn 36 quả đưa cho H và nói: "Cái này mỗi cốp (hộp) vào 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), tất cả hết 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng)". H cầm bao tải đựng pháo và rút ví từ trong người ra trả tiền nhưng trong ví chỉ có 1.030.000 đồng (một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) nên H nói với người phụ nữ: "Tiền không đủ 1.200.000 đồng rồi, chỉ có 1.030.000 đồng thôi". Thấy vậy người phụ nữ liền nói: "Có bao nhiêu đưa cho chị cũng được, tính tiền 10 cốp thôi, đằng nào cũng hết rồi, cho 02 cốp", H lấy tiền trả cho người này 1.020.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng). Lúc này, xung quanh có nhiều người đi bốc vác thuê nhưng không ai để ý và lúc đó trời đã nhá nhem tối. Người phụ nữ cầm tiền rồi đi đâu không rõ, H cầm bao tải chứa pháo buộc lên xe máy nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 21K1-029.0H rồi đi về nhà tại xóm T, xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến địa phận thuộc tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng công an phát hiện và bắt giữ. Mục đích H mua pháo về là để đốt chơi dịp Tết nguyên đán năm 2019. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21K1-029.0H H dùng để chở pháo là của chị gái H tên là Mông Thị N, sinh năm 1976, trú tại: xóm S, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, H mượn vào cuối tháng 01 năm 2019.

Hi 8 giờ 40 phút ngày 03 tháng 02 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng tiến hành mở niêm phong, cân xác định trọng lượng tịnh, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong tại trụ sở Công an thành phố Cao Bằng. Cân xác định khối lượng tang vật gồm 12 hộp pháo hoa loại giàn 36 quả có khối lượng là 17 kg (mười bảy kilogam).

Ngày 14 tháng 02 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 49 đối với số vật chứng của vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 776/C09-P2 ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: "Mẫu vật gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ)".

Đi với vật chứng của vụ án, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng vào ngày 04 tháng 4 năm 2019.

Đi với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 21K1-029.0H mà H dùng để chở pháo, cơ quan điều tra đã xác minh được chiếc xe này là của chị Mông Thị N, sinh năm 1976, trú tại xóm S, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Chị N là chị gái của Mông Văn H, cho H mượn xe để đi bốc vác tại huyện H, tỉnh Cao Bằng vào cuối tháng 01 năm 2019 nhưng không biết việc H dùng xe mang đi chở pháo. Ngày 15 tháng 3 năm 2019, xét đơn xin lại tài sản của chị Mông Thị N, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 25 tiến hành trao trả lại cho chị N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 21K1-029.02; 01 (một) đăng ký xe mô tô số 002051 mang tên Hà Thị K. Đồng thời, trả lại cho Mông Văn H 01 (một) chứng minh thư nhân dân số 080495607 mang tên Mông Văn H.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo cho rằng Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không thay đổi lời khai và không khai thêm nội dung gì khác.

Trong bản luận tội, vị đại diện Viện kiểm sát thay đổi về tội danh đã truy theo Bản cáo trạng số: 38/CT-VKSTP ngày 02/5/2019 đối với bị cáo. Cụ thể thay đổi tội danh của bị cáo từ Tàng trữ hàng cấm sang tội danh Vận chuyển hàng cấm. Đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Mông Văn H. Đề nghị xử phạt bị cáo Mông Văn H mức án từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng tù; về vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận:

- Bị cáo Mông Văn H không có gì cần tranh luận với phần luận tội của Viện kiểm sát.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: phần truy tố của Viện kiểm sát về tội danh tôi không có ý kiến gì cần tranh luận; về mức hình phạt đối với bị cáo tôi có quan điểm như sau: bị cáo là gia đình hộ nghèo, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn của tỉnh Cao Bằng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình. Mục đích vận chuyển pháo nổ của bị cáo chỉ là mục đích để đốt trong dịp tết cổ truyền, ngoài ra không có mục đích nào khác. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phần nói lời sau cùng: bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được hưởng mức án nhẹ nhất và cho được hưởng án treo.

Về nguồn gốc số pháo, H khai mua với một người phụ nữ khoảng 40 tuổi người Trung Quốc nhưng không biết rõ tên, địa chỉ, việc trao đổi mua bán không có người chứng kiến. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đang tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.

Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được cơ quan điều tra lấy lời khai và tài sản là chiếc xe máy đã được trả lại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các yếu tố cấu thành tội phạm:

Về mặt khách quan: bị cáo Mông Văn H do có nhu cầu mua pháo về đốt trong dịp tết nguyên đán nên bị cáo đã có hành vi vận chuyển hàng cấm. Cụ thể vào hồi 23 giờ 45 phút ngày 02 tháng 02 năm 2019, tại khu vực tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, bị cáo đã bị tổ công tác Cảnh sát 113 phòng PC06 Công an tỉnh Cao Bằng phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng đã bắt quả tang về hành vi vận chuyển hàng cấm. Vật chứng thu giữ: 01 (một) bao tải màu xanh bên trong có chứa 12 (mười hai) hộp pháo hoa loại giàn 36 quả do Trung Quốc sản xuất.

Như vậy có thể thấy rằng hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách pháp luật của nhà nước về việc quản lý các chất gây nổ.

Về mặt chủ quan của tội phạm: trong vụ án này bị cáo nhận thức được việc thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật và bị pháp luật trừng trị nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

Về mặt khách thể: hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách của nhà nước về quản lý các chất gây nổ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bức súc trong quần chúng nhân dân.

Về mặt chủ thể: căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, bị cáo Mông Văn H đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi. Do đó, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do mình gây ra.

Từ những phân tích trên đây, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vận chuyển hàng cấm được quy định tại Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản khám xét và bắt người quả tang, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Mông Văn H tội Vận chuyển hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam ..."

Bị cáo Mông Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ hiểu biết, bị cáo ý thức được việc thực hiện hành vi Vận chuyển hàng cấm sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Trường hợp này cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:

Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Bị cáo Mông Văn H là người có nhân thân xấu, đã có tiền án chưa được xóa án tích. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng có kinh tế đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo của xã, hoàn cảnh gia đình éo le, là lao động duy nhất trong gia đình có mẹ già mắc bệnh bạch tạng, có con mắc bệnh ban đỏ bẩm sinh hàng tháng phải tái khám và lấy thuốc điều trị tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội trong trường hợp chưa được xóa án tích, do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên thay đổi tội danh đã truy tố từ tội Tàng trữ hàng cấm sang tội danh Vận chuyển hàng cấm và đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Mông Văn H phạm tội "Vận chuyển hàng cấm"; xử phạt bị cáo với mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng: xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Hi đồng xét xử xét thấy về việc thay đổi tội danh của Viện kiểm sát là đúng với hành vi của bị cáo, đúng với quy định của pháp luật và mức đề nghị về hình phạt trên là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện nên cần chấp nhận.

[4] Về vật chứng chuyển theo vụ án:

Cần tịch thu tiêu hủy vật chứng sau vì liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng: 01 (một) một bao tải dứa chứa pháo bên ngoài ghi tang vật vụ Mông Văn H - sinh năm 1979, HKTT: xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ hàng cấm được niêm phong theo quy định.

Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành dán đân sự thành phố Cao Bằng.

[5] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số pháo bị bắt giữ: H khai mua với một người phụ nữ khoảng 40 tuổi người Trung Quốc nhưng không biết rõ tên, địa chỉ, việc trao đổi mua bán không có người chứng kiến. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đang tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Mông Văn H phạm tội Vận chuyển hàng cấm.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Mông Văn H;

Xử phạt bị cáo Mông Văn H mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.

[2] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau vì liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng: 01 (một) một bao tải dứa chứa pháo bên ngoài ghi tang vật vụ Mông Văn H - sinh năm 1979, HKTT: xã B, huyện N, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ hàng cấm được niêm phong theo quy định.

Số vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 4 năm 2019.

[3] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

- Xử buộc bị cáo Mông Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

[4] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2019/HS-ST ngày 27/06/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

Số hiệu:65/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Bằng - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về