Bản án 65/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 65/2019/HS-ST NGÀY 22/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2019/HSST-QĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo.

Lò Văn Ch, sinh ngày 28/11/1988, tại xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Đoàn thể: không; Đảng phái: không; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H, sinh năm 1965 và bà Lò Thị Lả, sinh năm 1970, vợ là Lò Thị Ph, sinh năm 1990, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012. Tiền sự: không; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam, từ ngày 08/7/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1.Ông Lò Văn H, sinh năm 1977, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có măt tại phiên tòa.

2. Bà Lò Thị V, sinh năm 1976, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lò Thị Ph, sinh năm 1990, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có măt tại phiên tòa.

2. Ông Lò Văn H, sinh năm 1965, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có măt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Ông Cầm Văn H2, sinh năm 1986, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

2. Bà Quàng Thị Nh, sinh năm 1970, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

3. Ông Lèo Văn Q, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

4. Ông Lò Văn H3, sinh năm 1990, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

5. Ông Lò Nhật T, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

6. Ông Lèo Văn Q2, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim Loan, trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch cho người bị hại Lò Thi V: Ông Lò Văn Bang. Trú quán: Tiểu khu 3, thị trấn Ít ong huyện Mường La. Có măt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn Ch đi làm thuê tại công trường thủy điện X ở Y, huyên Mường La nên Ch quen biết với gia đình ông Lò Văn H và bà Lò Thị V, ở bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Khoảng 07 giờ ngày 21/06/2019, Lò Văn Ch cầm theo 01 chai rượu rồi đi xe máy biển kiểm soát 26K9-5426, đi từ lán công trường thủy điện X ở Y, huyện Mường La đến nhà ông H rủ ông H uống rượu. Khi đến cuối bản Hua Đán, xã Y (Khu vực giáp với bản X-Y) thì Ch gửi xe máy ở nhà người dân, rồi cầm chai rượu đi bộ đến nhà Lò Văn H. Khi Ch đến nhà H thì không thấy ai ở nhà, cửa nhà khóa. Ch đi ra cửa bếp dùng tay kéo mép trên cánh cửa thì bản lề bật ra, Ch nhấc cánh cửa ra đi vào trong bếp, rồi lên nhà nằm lên giường ngủ của vợ chồng ông H. Một lúc sau có người đàn bà dân tộc Mông đến nhà H, Ch hỏi “đi đâu đấy” thì người đó trả lời đi sạc nhờ điện thoại và Ch có đưa trai rươi nhưng người đó không lấy và bỏ đi, sau đó Ch lại vào giường nằm, Ch nhìn thấy bên trái giường ngủ có 01 chiếc hòm bằng gỗ không có nắp, bên trong có 1 quyển vở ô li học sinh, Ch cầm quyển vở lên thì thấy có 01 bọc tiền ở dưới, Ch cầm bọc tiền đút vào túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đi ra khỏi nhà ông H. Khi đi được khoảng 20 mét Ch lấy bọc tiền vừa lấy trộm được ra đếm được 12.000.000đ và vứt giấy bọc tiền xuống đường. Ch cất tiền vào túi quần bên phải đang mặc và đi đến chỗ gửi xe máy lấy xe rồi đi về lán công trường thủy điện X – Y. Sau khi lấy trộm được tiền Lò Văn Ch đã tiêu sài cá nhân và dùng trả nợ: Trả nợ cho Cầm Văn Hoán (sn 1986, trú tại bản X – Y – Mường La) 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), trả tiền dầu nhớt xe máy cho Quàng Thị Nhi (sn 1970, trú tại bản X – Y – Mường La) 80.000đ (tám mươi nghìn đồng), trả tiền nợ Lèo Văn Quynh (sn 1994, trú tại bản Mường X – Y – Mường La) 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), trả tiền nợ Lò Văn Hương (sn 1990, trú tại bản X – Y – Mường La) 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), trả nợ cho Lò Nhật Tân (sn 1990, trú tại Bản X – Y – Mường La) 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), Trả nợ cho Lèo Văn Quy (sn 1993, trú tại bản Tà Làng – Y – Mường La) 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền còn lại Ch đi chơi bi a, mua phân đạm, sửa chữa xe máy, mua quần áo hết.

Khi gia đình ông H, bà V, phát hiện bị kẻ gian cậy cửa vào nhà lấy trộm tiền ông Lò Văn H đại diện cho gia đình trình báo với cơ quan Công an là bị mất 16.000.000 đồng (Mưới sáu triệu đồng). Qua điều tra xác định được gia đình Lò Văn H chỉ mất số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) trước khi đi làm sáng ngày 21/6/2019 vợ ông H là Lò Thị V (Sinh năm 1976, ở cùng nhà với ông H) có đếm tiền để đi mua máy cày, nhưng không có xe máy nên không đi nữa và bà Lò Thị V dùng giấy có dòng kẻ ô li gói số tiền 12.000.000đ lại, cất vào hòm gỗ để cạnh đầu giừơng ngủ trong nhà, sau đó ông H, bà V khóa cửa rồi đi làm, vì vậy Lò Thị V biết rõ số tiền này, lời khai của bị cáo Ch phù hợp với lời khai của Lò Thị V về số tiền Ch lấy trộm.

Ngun gốc số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) của vợ chồng ông H, bà Vá, có được là do Trường Tiểu học xã Y hỗ trợ học sinh nghèo, nhà ông H, bà V , có con và cháu đang học tại trường nên đươc hỗ trợ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), còn 2.000.000đ (hai triệu đồng) là tiền do gia đình ông H, bà V, lao động tiết kiệm có được.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen nhãn hiệu OPPO A1K.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda; Số loại DREAM; Màu sơn: Nâu, Biển kiểm soát: 26K-5426; Số khung: 061069; Số máy:1360911.

Tại cáo trạng số 631/CT-VKSML ngày 22/9/2019 truy tố bị cáo Lò Văn Ch, về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lò Văn Ch và đề nghị H đồng xét xử.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn Ch từ 06 đến 9 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình bị cáo đã hoàn trả số tiền số tiền 12.000.000đ cho gia đình bị hại, và gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác Về tài sản tạm thu giữ:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen nhãn hiệu OPPO A1K, là của vợ bị cáo là Lò Thị Ph, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho Lò Thị Ph định đoạt.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda; Số loại DREAM; Màu sơn: Nâu, Biển kiểm soát: 26K-5426; Số khung: 061069; Số máy:1360911, xe là của ông Lò Văn H, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho ông Lò Văn H định đoạt.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo:

Trong bản luận cứ bào chữa cho các bị cáo cho rằng:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa, nhận thức pháp luật kém và sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã ra đầu thú , khắc phục hậu quả và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị H đồng xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tại điểm b, i r, s khoản 1 Điều 51; BLHS, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã H.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo,người bào chữa cho bị cáo, người bị hại,người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Ch khai nhận vào khoảng 07giờ ngày 21/6/2019 bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 12.000.000đ của gia đình ông Lò Văn H, bà Lò Thị V. Sau khị trộm được số tiền bị cáo đem đi trả nợ và tiêu sài cá nhân hết. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi trộm cắp tài sản. Xét lời khai nhận tội của bị cáo, phù hợp với lời khai của người bị hại và lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 12.000.0000đ của gia đình ông Lò Văn H, bà Lò Thị V đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

o trạng của Viện kiểm sát huyện Mường La, truy tố đối với bị cáo Lò Văn Ch là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3].Về hình phạt: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã H và bản thân, do bị cáo nghiện chất ma túy, lười lao động, nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã H ở địa phương. Do vậy, cần có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã H một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa Ch.

[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm ôn định, đi làm thuê theo mùa vụ, gia đinh bị cáo không có tài sản gì có giá trị và không có khả năng thi hành. Nên H đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự.

- Bị cáo có tình tiết giam nhẹ trách nhiệm hình sự. sau khi phạm tội trong thời gian bị bắt tạm giam bị cáo đã thuyết phục gia đinh bồi thường cho gia đình người bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự thú và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i, r, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tai phiên tòa người bị hại ông Lò Văn H, bà Lò Thị V, trình bầy sau khi gia đình bị mất trộm tiền số tiền 12.000.000đ và đã trình báo với cơ quan điều tra và cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn Ch và bị cáo Ch đã thừa nhận là đã trộm cắp tiền của gia đình và đã tiêu sài hết. Nay gia đình bị cáo Ch đã bồi thường đủ số tiền 12.000.000đ cho gia đình người bị hại ông H, bà V không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì thêm. Nên H đông xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng:

Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã tạm giữ:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen nhãn hiệu OPPO A1K. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa chị Lò Thị Ph cho rằng chiếc điện thoại đó là của chị, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên chị có yêu cầu xin lại chiếc điện thoại để dùng. H đồng xét xử xét thấy chiếc điện thoại của chị Ph không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. Nên cần trả lại cho Lò Thị Ph.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda; Số loại DREAM; Màu sơn: Nâu, Biển kiểm soát: 26K-5426; Số khung: 061069; Số máy:1360911. Tại phiên tòa ông Lò Văn H là bố đẻ bị cáo khai chiếc xe đó là của ông vì khi vợ chồng bị cáo Ch còn đang ở cùng với ông, ông đã bỏ tiền ra mua xe thời gian mua xe ông chưa có giấy phép lái xe nên ông đã để cho bị cáo Ch đứng tên đăng ký, sau khi vợ chồng bị cáo Ch ra ở riêng ông đã lấy xe, ông sử dụng hàng ngày để đưa cháu đi học, bị cáo Ch tự ý lấy xe của ông để đi phạm tội ông không biết. Nay ông có yêu cầu xin lại chiếc xe vì gia đinh ông chỉ có duy nhất chiếc xe là phương tiện đi lai để đưa đón các cháu đi học hàng ngày. H đồng xét xử xét thấy chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu Honda; Số loại DREAM; Màu sơn: Nâu, Biển kiểm soát: 26K-5426; Số khung: 061069; Số máy:1360911là của ông Lò Văn H nên cần trả lại cho ông Lò văn H.

- Đối với Cầm Văn Hoán, Quàng Thị Nhi, Lèo Văn Quỳnh, Lò Văn Hương, Lò Nhật Tân, Lèo Văn Quý là những người đã được bị cáo trả tiền do bị cáo đã nợ trước đó nhưng Cầm Văn Hoán, Quàng Thị Nhi, Lèo Văn Quynh, Lò Văn Hương, Lò Nhật Tân, Lèo Văn Quý không biết số tiền đó là do Lò Văn Ch trộm cắp mà có, nên không có căn cứ để xử lý và truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: Chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Ch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ch phạm tội: Trộm cắp tài sản.

1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Ch 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ ngày 08/7/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự,

- Trả lại cho chị Lò Thị Ph 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen nhãn hiệu OPPO A1K (đã qua sử dụng).

- Trả lại cho Ông Lò Văn H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda; Số loại DREAM; Màu sơn: Nâu, Biển kiểm soát: 26K-5426; Số khung: 061069; Số máy:1360911 (xe đã qua sử dụng) (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/9/2019 gữa Công an huyện Mường La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 22/10/2019. /.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:65/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về