Bản án 65/2018/HNGĐ-ST ngày 20/06/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 65/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2018/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 , giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Chung Thị Thanh T, sinh năm 1985;

Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện C, tỉnh Long An.(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện nhận ngày 09/4/2018 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Chung Thị Thanh T trình bày: chị và anh T1 cưới nhau vào năm2008, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2008 tại Ủy bannhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh T1 ham chơi cờ bạc, thường xuyên gây nợ riêng nên không có khả năng chăm lo cho gia đình và con cái, tất cả mọi gánh nặng về chi phí sinh hoạt trong gia đình đều do chị quán xuyến nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Từ năm 2011 đến tháng 7 năm2016 vợ chồng ly thân, chị về nhà cha mẹ ruột sống, vợ chồng không có liên lạc với nhau. Tháng 8 năm 2016, anh T1 quay về năn nỉ, vợ chồng quay lại chung sống, cùng nhau trả những khoản nợ riêng của anh T1 nhưng đến tháng 02 năm2018, khi đã trả xong hết nợ, anh T1 lại tiếp tục bỏ đi, vợ chồng ly thân từ đóđến nay. Nay, xét thấy tình cảm không còn, hôn nhân không còn khả năng hàn gắn, chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T1.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 18/7/2008. Hiện tại đang sống chung chị. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: không có.

Về nợ chung: không có.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T1, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, thông báo phiên tòa hợp lệ nhưng anh T1 không nộp văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Chung Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T1 là quan hệ tranh chấp ly hôn, căn cứ theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Đối với anh Nguyễn Minh T1, Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo về phiên hòa giải, thông báo phiên tòa sơ thẩm, thông báo hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh T1 vẫn không đến tham dự phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T1.

 [2]Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Chung Thị Thanh T và anh Nguyễn Minh T1 cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2008 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị T trình bày thì nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn là do anh T1 ham chơi, không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên gây ra những khoản nợ riêng. Vì hạnh phúc gia đình, chị T cũng đã cùng chồng trả nợvà khuyên nhủ nhưng anh T1 không thay đổi và tự ý bỏ đi, cắt đứt liên lạc với chị T từ tháng 02/2018, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay, chị T cho rằng hôn nhân không còn khả năng hàn gắn nên cương quyết yêu cầu ly hôn với anh T1. Đối với anh Nguyễn Minh T1, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng anh T1 vẫn không nộp cho Tòa án bất cứ văn bản nào trình bày ýkiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị T cũng như không đến Tòa án để giải quyết cho thấy anh T1 không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều56 của Luật hôn nhân và gia đình cần xử chấp nhận cho chị T được ly hôn vớianh T1.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 18/7/2008, hiện đang sống với chị T đã ổn định, cháu T2 cũng có nguyện vọng muốn sống cùng với chị T nên căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị T. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Anh T1 không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ chung: chị T nêu tài sản chung không có nên không yêu cầu chia tài sản và nợ chung không có nên không xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về chia tài sản và nợ chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị Chung Thị Thanh T phải chịu án phí theo qui định của pháp luật án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chung Thị Thanh T về việc “tranhchấp ly hôn” đối với anh Nguyễn Minh T1.

Về hôn nhân: Chị Chung Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Minh T1.

Về nuôi con chung: Chị Chung Thị Thanh T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 18/7/2008, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Chị Chung Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000923 ngày 09/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, chị T đã nộp đủ.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2018/HNGĐ-ST ngày 20/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:65/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Đước - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về