Bản án 64/2020/HSST ngày 28/10/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN – TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 64/2020/HSST NGÀY 28/10/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 28 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2020/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2020/QĐXX-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 đối với:

*Bị cáo: Nguyễn Đức M, sinh năm 1974; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ dân phố Tr, phường Duy M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn An N, sinh năm 1942 và bà Phạm Thị Nh, sinh năm 1947; vợ: Lê Thị H (đã ly hôn); con: 01 con, sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/01/2020, bị Công an huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi "Trộm cắp tài sản"(đến nay chưa chấp hành); Nhân thân: Ngày 27/11/2002, bị UBND tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 1391 về việc đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng. Ngày 10/10/2005, bị UBND huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên) ra Quyết định số 664 về việc đưa đối tượng đi cai nghiện ma túy tại trung tâm BTXH tỉnh Hà Nam, thời hạn 24 tháng. Ngày 30/6/2009, bị UBND tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 773 về việc đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng. Ngày 21/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 22/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo bị tạm giữ ngày 12/8/2020, chuyển tạm giam ngày 15/8/2020 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; Có mặt.

*Bị hại: Ông Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1957; Có mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường Duy M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam.

*Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Th, sinh năm 1969; Vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường Duy M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 19h45' ngày 11/8/2020, Nguyễn Đức M một mình đi bộ từ nhà sang nhà ông Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1957 ở Tổ dân phố Tr, phường Duy M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam để vay tiền. Tại nhà ông Tr, M hỏi ông Tr: "Anh cho em vay mấy trăm", ông Tr nói: "Tao làm gì có tiền, mai tao đi Hà Nội sớm, tao đang chuẩn bị đi tắm thì mày gọi" nên M đi về nhà. Biết ông Tr sẽ đi tắm nên M nảy sinh ý định quay lại nhà ông Tr lấy trộm tiền của ông Tr. Khoảng 03 phút sau, M quay lại nhà ông Tr. Lúc này, cửa nhôm kính phía trong nhà ông Tr đóng, nhìn qua kính thấy đèn vẫn bật sáng, xung quanh không có ai. M mở cửa nhôm kính đi vào trong nhà thì thấy trên tay nắm cánh tủ gỗ phía bên trái hướng đi từ ngoài vào có treo quần áo. M tiến đến lục túi áo phông cộc tay màu trắng của ông Tr thấy có số tiền 50.000đ được buộc cùng tờ giấy gấp gọn bằng dây chun, M rút số tiền trên ra bỏ vào túi quần đang mặc. M tiếp tục lục túi chiếc quần ngố màu xám treo cạnh đó thấy có 01 chiếc ví nam màu đen, mở ví ra thấy trong ví có số tiền 100.000đ gồm 02 tờ tiền mệnh giá 50.000đ. M mở khóa ngăn ví thấy có số tiền 2.000.000đ gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000đ. M lấy hết số tiền 2.100.000đ và bỏ lại chiếc ví trên ghế nhựa gần đó rồi ra khỏi phòng. Sau khi lấy trộm được số tiền 2.150.000đ của ông Tr, M mang đi tiêu xài cá nhân 1.065.000đ. Biết việc làm của mình đã bị phát hiện, đến 23h00' cùng ngày, Nguyễn Đức M tự giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duy Tiên đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp số tiền 1.085.000đ còn lại do trộm cắp mà có cho Cơ quan điều tra.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 1.085.000đ (do Nguyễn Đức M tự giác giao nộp cho Cơ quan CSĐT) gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 03 tờ tiền mệnh giá 50.000đ, 03 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG.

Ngày 23/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã xử lý vật chứng trả lại ông Nguyễn Quốc Tr số tiền 1.085.000đ.

Về trách nhiệm dân sự:Trong quá trình điều tra, Nguyễn Đức M đã nhờ anh trai là Nguyễn Th, sinh năm 1969 ở Tổ dân phố Tr, phường Duy M, thị xã Duy T bồi thường cho ông Tr số tiền 1.065.000đ. Ông Tr đã nhận tiền và không có đề nghị gì khác.

Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 05/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Nguyễn Đức M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xử phạt: Nguyễn Đức M từ 18( Mười tám) đến 24( Hai mươi bốn) tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở đánh giá các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử( HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên và Kiểm sát viên thấy rằng: Việc điều tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm, ban hành các văn bản tố tụng đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 20h00' ngày 11/8/2020, tại nhà ông Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1957 ở Tổ dân phố Tr, phường Duy M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của ông Tr, Nguyễn Đức M đã lén lút đột nhập vào trong nhà trộm cắp số tiền 2.150.000đ của ông Tr để trong chiếc ví và trong túi áo phông treo trên tay nắm của cánh tủ. Số tiền trộm cắp được, M tiêu xài cá nhân hết 1.065.000đ. Số tiền còn lại 1.085.000đ M tự giác giao nộp lại cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên khi ra đầu thú.

nh vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Mặc dù bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính và 02 lần bị Tòa án xét xử cùng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không chịu cải sửa, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự bất chấp, coi thường pháp luật. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại, đồng thời ra đầu thú tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng sớm kết thúc vụ án nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên, HĐXX nhận thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, khó cải tạo nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã giải quyết xong về trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì khác. Do vậy, HĐXX không đặt ra giải quyết.

[6]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án: Đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Nguyễn Đức M 18( Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2020.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Đức M phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo; bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


71
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2020/HSST ngày 28/10/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:64/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Duy Tiên - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/10/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về