Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 28/10/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 64/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/10/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 28 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 622/2019/ST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ChLê Thị G, sinh năm 19xx; Địa chỉ: Số xx, ấp L, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 19xx; Địa chỉ: Số x/x, ấp T, xã H, huyện H, tỉnh Tây Ninh – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 8 năm 2019, lời trình bày trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị G trình bày:

Chị và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1994, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Chung sống hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2001 đến nay. Hiện tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Quá trình chung sống có 02 con chung tên Võ Thị T, sinh năm 19xx và Võ Thị K C, sinh năm 19xx, các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Không có ai nợ lại hai vợ chồng.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị G về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2019 đến nay. Nay chị G yêu cầu ly hôn anh đồng ý do không thể hàn gắn được nữa.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chị G và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 19xx, không có đăng ký kết hôn nên hôn nhân không được pháp luật công nhận. Sống chung không hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2001 đến nay. Do ông Long, bà Nương sống chung không có đăng ký kết hôn nên căn cứ Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị G anh T là vợ chồng.

Về con chung: 02 con chung tên Võ Thị T, sinh năm 19xx và Võ Thị K C, sinh năm 19xx, các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết. Chị G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị G và bị đơn anh Võ Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị G, anh T theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 19xx, không có đăng ký kết hôn, có tổ chức lễ cưới. Chung sống hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Anh chị đã ly thân từ năm 2001 đến nay, hiện tình cảm không còn nên chị G yêu cầu được ly hôn với anh T, anh T cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị G.

Xét yêu cầu và lời trình bày của chị G và anh T thấy rằng: Anh chị sống chung không có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống không còn hạnh phúc nên đã ly thân và cả hai cùng yêu cầu ly hôn nhưng Tòa án không thể cho anh chị thuận tình ly hôn. Do chị G, anh T chung sống không có đăng ký kết hôn nên theo quy định của luật hôn nhân gia đình thì quan hệ giữa chị G và anh T không phải là vợ chồng do đó cần tuyên bố không công nhận chị Lê Thị G và anh Võ Văn T là vợ chồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: 02 con chung tên Võ Thị T, sinh năm 19xx và Võ Thị K C, sinh năm 19xx, đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Chị G phải chịu án phí theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 14; Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, tuyên xử:

1. Tuyên bố không công nhận chị Lê Thị G và anh Võ Văn T là vợ chồng.

Về con chung: 02 con chung tên Võ Thị T, sinh năm 19xx và Võ Thị K C, sinh năm 19xx đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị G phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị G đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0013807 ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị G đã nộp xong tiền án phí.

Án sơ thẩm xử công khai, báo cho chị G, anh T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


77
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 28/10/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:64/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hoà Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 28/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về