Bản án 64/2017/HSST ngày 29/11/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 64/2017/HSST NGÀY 29/11/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 64/2017/HSST ngày 08/11/2017 đối với các bị cáo:

1. Hà Thị H1- sinh năm 1989

Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Buôn bán.

Trình độ văn hóa: Lớp 9/12;

Con ông Hà Văn V (đã chết) và bà Đỗ Thị N sinh năm 1966.

Có chồng là Dương Văn L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại. Có mặt.

2. Phạm Quang H2- sinh năm 1984

Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Thôn 1, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lái xe;

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12;

Con ông Phạm Kim Đ sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị N sinh năm1954;

Có vợ là Tống Thị L sinh năm 1984 và 03 con (Lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại. Có mặt.

3. Bùi Hoàng L- sinh năm 1997

Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Thôn 1, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Không;

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12;

Con ông Bùi Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Minh H3 sinh năm 1976.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện tại ngoại. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Vũ Đức N- sinh năm 1987

Trú tại: Thôn 2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Đoàn Văn T- sinh năm 1992

Trú tại: Thôn 7, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Vũ Đức V- sinh năm 1977

Trú tại: Khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Đàm Xuân S- sinh năm 1977

Trú tại: Thôn 5, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Trần Hồng C- sinh năm 1988

Trú tại: Khu P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Nguyễn Văn H- sinh năm 1988

Trú tại: Thôn 7, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

 (Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt).

NHẬN THẤY

Các bị cáo: Hà Thị H1, Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 10/8/2017, tại quán bán hàng của Hà Thị H1 sinh năm 1989 ở thôn 1, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác thuộc Công an huyện Đoan Hùng kiểm tra, phát hiện 04 đối tượng gồm: Nguyễn Văn H sinh năm 1988, Đàm Xuân S sinh năm 1977 đều ở xã T, huyện Đ và Trần Hồng C sinh năm 1988, Vũ Đức V sinh năm 1977 đều ở thị trấn Đ, huyện Đ đang đánh bài dưới hình thức chơi sâm, không sát phạt bằng tiền. Kiểm tra người các đối tượng phát hiện, thu giữ 04 mảnh giấy màu trắng một mặt ghi nhiều số tự nhiên. Các đối tượng khai nhận đó là cáp ghi các số lô, số đề vừa mua của Hà Thị H1. Tổ công tác tiến hành kiểm tra và thu giữ của H1 01 túi xách giả da màu đen bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1S lắp sim số0985. 677.927; 03 mảnh giấy màu trắng một mặt có ghi nhiều số tự nhiên và 6.000.000đ. H1 khai nhận trong đó có 3.790.000đ là tiền vừa bán số lô, đề cho S, C, V; Ngoài ra, quá trình kiểm tra còn thu giữ tại bàn 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và thu giữ của Nguyễn Văn H số tiền 1.600.000đ.

Mở rộng điều tra xác định ngày 09/8/2017, H1 còn đánh bạc với Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L và một số đối tượng khác dưới hình thức bán số lô, số đề. Qua điều tra ban đầu, xác định hành vi của Hà Thị H1, Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại Khoản 1 Điều 248 BLHS, ngày 22/8/2017, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với H1, H2, L và tiến hành làm rõ toàn bộ nội dung vụ án như sau:

Nhận thấy việc bán số lô, số đề đem lại lợi nhuận cao nên khoảng đầu tháng 8/2017, Hà Thị H1 bắt đầu bán số lô, số đề để kiếm lời. Hình thức chơi như sau: Người đánh bạc cùng H1 mua số đề, số lô do tùy chọn. Số đề, số lô là các số tự nhiên có 02 chữ số từ 00 đến 99. Mỗi điểm lô giá 23.000đ. Căn cứ để xác định đánh bạc thắng hay thua dựa vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày vào lúc 19 giờ. Người chơi trúng số đề nếu mua trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt. H1 sẽ trả cho người chơi gấp 70 lần, (tức là 1.000đ được 70.000đ). Trúng số lô là trùng với 02 số cuối cùng của tất cả các giải từ giải nhất đến giải đặc biệt. Nếu trúng 01 điểm lô sẽ được trả 80.000đ. Sau khi có kết quả sổ xố, nếu người chơi trúng H1 sẽ trả tiền theo như thoả thuận.

Ngày 09/8/2017, Hà Thị H1 đã bán số lô, số đề cho 04 người bằng hình thức nhắn tin qua số thuê bao của mình là 0985.677.927. Tổng số tiền đánh bạc của H1 là 19.275.000đ, Cụ thể: Phạm Quang H2 nhắn tin từ số điện thoại 0916.527.112 của mình mua 80 điểm lô = 1.840.000đ và 14 số đề = 420.000đ. Tổng số tiền H2 mua số lô, số đề là 2.260.000đ, H2 chưa trả tiền cho H1. Sau khi có kết quả mở thưởng, H2 được trúng 6.200.000đ: trong đó trúng số lô 57 hai lần được 40 điểm =3.200.000đ; số lô 16 một lần 20 điểm = 1.600.000đ và số đề 16 = 20.000đ được 1.400.000đ. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của H2 là 8.460.000đ. H1 chưa trả tiền trúng số lô, số đề cho H2.

Bùi Hoàng L nhắn tin tử số điện thoại 01633.000.486 của mình mua 70 điểm lô = 1.610.000đ và 04 số đề = 400.000đ. Tổng số tiền mua số lô, số đề trên là 2.010.000đ, L đã trả tiền cho H1. So với kết quả mở thưởng, L trúng số đề 16 = 100.000đ được 7.000.000đ. H1 chưa trả số tiền này cho L. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của L là 9.010.000đ. Đoàn Văn T nhắn tin mua 05 điểm lô = 115.000đ và đã trả tiền cho H1. Tkhông trúng số lô.

Vũ Đức N nhắn tin mua 30 điểm lô = 690.000đ và 16 số đề = 300.000đ. Tổng số tiền mua số lô, đề trên là 990.000đ, N chưa trả cho H1. So kết quả mở thưởng, N trúng số đề 16 = 10.000đ được 700.000đ. Tổng số tiền N sử dụng đánh bạc là 1.690.000đ, H1 chưa trả tiền trúng số đề cho N.

Đến ngày 10/8/2017, H1 bán số lô, số đề cho 04 người, thu tổng số tiền là 5.390.000đ. Cụ thể: 

Đàm Xuân S trực tiếp mua 30 điểm lô = 690.000đ và 06 số đề = 300.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 990.000đ. S đã trả tiền cho H1.

Trần Hồng C trực tiếp mua 30 điểm lô = 690.000đ và 33 số đề = 300.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 990.000đ, C đã trả tiền cho H1. Vũ Đức V trực tiếp mua 70 điểm lô = 1.610.000đ và 04 số đề = 200.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.810.000đ, V đã trả tiền cho H1.

Nguyễn Văn H trực tiếp mua 60 điểm lô = 1.380.000đ và 22 số đề=220.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.600.000đ. H chưa trả tiền cho H1.

Tại bản cáo trạng số 67/KSĐT- TA ngày 06/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Hà Thị H1, Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo: Hà Thị H1, Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L phạm tội: “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểmg khoản 1 Điều 48; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự: Xử phạt Hà Thị H1 từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 30 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Hoàng L từ 8.000.000đ đến 10.000.000đ.

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 30 Bộ luật hình sự: Xử phạt Phạm Quang H2 từ 6.000.000đ đến 8.000.000đ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 14.410.000đ, 01 điện thoại di động Oppo F1S lắp sim số 0985. 677.927; 01 điện thoại di động Nokia 225 lắp sim số 0916.527.112; 01 điện thoại di động Iphone 5 không lắp sim.

+ Truy thu của Hà Thị H1 2.400.000đ.

+ Trả lại cho Hà Thị H1 2.210.000đ.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 quyển sổ; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 túi xách giả da màu đen.

+ Trả lại cho anh Vũ Đức N 01 điện thoại di động Hummer lắp sim số 0976.018.397.

+ Trả lại cho anh Đoàn Văn T 01 điện thoại di động Nokia 1202 lắp sim số 0948.345.866.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

Căn cứ vào các chøng cø và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ së xem xét thấy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, các bị cáo: Hà Thị H1, Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhËn téi của các bị cáo phï hîp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 09/8/2017, tại quán bán hàng của mình ở thôn 1, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Hà Thị H1 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L, Vũ Đức N và Đoàn Văn T. Tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc là 19.275.000đ. H2 sử dụng tiền đánh bạc là 8.460.000đ. L sử dụng tiền đánh bạc là 9.010.000đ. T sử dụng 115.000đ để đánh bạc. N sử dụng 1.690.000đ để đánh bạc. Ngày 10/8/2017, H1 tiếp tục đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Đàm Xuân S, Trần Hồng C, Vũ Đức V và Nguyễn Văn H, thu tổng số tiền là 5.390.000đ.

Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP, ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự quy định:

Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự, an toàn công cộng. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử nghiêm để giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và ngăn chặn, phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo: Hà Thị H1 bán số lô, số đề cho nhiều người, trong đó hai ngày 09 và 10/8/2017 đều đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần. Tổng số tiền H1 sử dụng đánh bạc là 24.665.000đ, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo.

Tuy nhiên Hà Thị H1 được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm: h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo. Mặt khác, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã ly hôn, trực tiếp nuôi con và đang có thai, nên bị cáo được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xét Hà Thị H1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Bị cáo không có tài sản riêng, nên không phạt bổ sung. Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đều được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của như đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt tiền đối với L và H2. Do bị cáo H2 được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 (Bố đẻ bị cáo là người có công với Cách mạng, được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3), số tiền đánh bạc ít hơn L, nên mức phạt đối với H2 sẽ thấp hơn L. Do đã áp dụng phạt tiền là hình phạt chính, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo L và H2.

Trong vụ án này còn có một số người đã mua số đề, số lô của Hà Thị H1 gồm: Đoàn Văn T, Vũ Đức N, Đàm Xuân S, Trần Hồng C, Vũ Đức V, Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, số tiền mỗi người sử dụng đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, mặt khác họ chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, gá bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Công an huyện Đoan Hùng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với họ là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Hà Thị H1 khai nhận chỉ làm thư ký ghi số lô, số đề để hưởng tiền hoa hồng. Hàng ngày, sau khi bán số lô, số đề, H1 tổng hợp rồi nhắn tin chuyển đến số thuê bao 01669.522709 cho Đoàn Thị H4 sinh năm 1982 ở xã N, huyện Đ. H1 được hưởng 1.000đ/1 điểm lô và 15% tiền bán số đề 2 số nhưng Đoàn Thị H4 không thừa nhận. Tài liệu điều tra không đủ cơ sở xác định H4 phạm tội Đánh bạc. Do vậy,Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu làm rõ sẽ xử lý sau.

Ngoài ra, Hà Thị H1còn khai nhận trong khoảng thời gian từ đầu tháng 8/2017 đến trước ngày 09/8/2017 còn bán số lô, số đề cho nhiều người, thu tổng số tiền khoảng 2.400.000đ, nhưng không biết những người đó là ai, ở đâu, nên không đề cập xử lý.

- Về xử lý vật chứng:

+ Trong tổng số tiền 16.620.000đ đã tạm giữ có 14.410.000đ là tiền các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án sử dụng để đánh bạc, cần tịch thu, sung quỹ nhà nước; còn lại 2.210.000đ là tài sản hợp pháp của Hà Thị H1, không liên quan đến việc phạm tội, sẽ trả cho bị cáo.

+ 01 điện thoại di động Oppo F1S, 01 điện thoại di động Iphone 5, 01 điện thoại di động Nokia 225 đã thu giữ của Hà Thị H1, Bùi Hoàng L, Phạm Quang H2 là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

+ Số tiền Hà Thị H1 thu được do bán số lô, số đề từ đầu tháng 8/2017 đến ngày 08/8/2017 là 2.400.000đ cần truy thu, sung quỹ nhà nước.

+ 01 quyển sổ; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy .

+ 01 túi xách giả da màu đen tạm giữ là tài sản của Hà Thị H1, không liên quan đến việc phạm tội nhưng bị cáo không yêu cầu nhận lại, sẽ tịch thu tiêu hủy do giá trị sử dụng không lớn.

+ Do anh Vũ Đức N, anh Đoàn Văn T chỉ vi phạm hành chính nên sẽ trả lại 01 điện thoại di động Hummer lắp sim số 0976.018.397, 01 điện thoại di động Nokia 1202 lắp sim số 0948.345.866.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố: Các bị cáo: Hà Thị H1, Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L phạm tội: “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự: Xử phạt Hà Thị H1 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Hà Thị H1 cho UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Hoàng L 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều30 Bộ luật hình sự: Xử phạt Phạm Quang H2 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Các bị cáo phải nộp khoản tiền phạt một lần để sung quỹ nhà nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm: a, b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, các điểm: a, c, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 14.410.000 (Mười bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng); 01 điện thoại di động Oppo F1S lắp sim số 0985. 677.927; 01 điện thoại di động Nokia 225 lắp sim số 0916.527.112; 01 điện thoại di động Iphone 5 không lắp sim.

- Trả lại cho Hà Thị H 12.210.000đ (Hai triệu hai trăm mười nghìn đồng).

- Truy thu của Hà Thị H1 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy 01 quyển sổ; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 túi xách giả da màu đen.

- Trả lại cho anh Vũ Đức N 01 điện thoại di động Hummer lắp sim số 0976.018.397.

- Trả lại cho anh Đoàn Văn T 01 điện thoại di động Nokia 1202 lắp sim số 0948.345.866.  (Các vật chứng, tài sản nêu trên đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng quản lý).

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo: Hà Thị H1, Phạm Quang H2, Bùi Hoàng L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


94
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về