Bản án 64/2017/HSST ngày 28/07/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 64/2017/HSST NGÀY 28/07/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28-7-2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh HảiDương xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số55/2017/HSST ngày 03-7-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2017/HSST-QĐ ngày 13-7-2017 đối với bị cáo:

PHẠM VĂN T, sinh năm 1993 tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Phạm Văn M và bà Phạm Thị H; tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-6-2017, chuyển tạm giam từ ngày 06-6-2017đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Phạm Văn P, sinh năm 1984. Vắng mặt. Trú tại: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tạiphiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy (chất Hêrôin), sáng ngày 28-5-2017, Phạm Văn T đi xe khách từ nhà ở thôn N, xã H, huyện T đến khu vực đường 10, địa phận huyện A, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, T mua được 03 đoạn ống nhựa bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng được hàn kín hai đầu với giá 150.000đ của một người đàn ông không quen biết. T đem số ma túy mua được về nhà cất giấu. Khoảng 11 giờ ngày 03-6-2017, T đi bộ đem theo 03 đoạn ống nhựa đựng ma túy đến chân cầu X, địa phận thôn B, xã H, huyện T thì gặp một người đàn ông giới thiệu tên Bùi Văn Z – sinh năm1962 ở thôn M, xã K, huyện T, tỉnh Hải Dương hỏi mua 02 đoạn ống nhựa đựng ma túy với giá 200.000đ. T đồng ý rồi lấy 02 đoạn ống nhựa đựng ma túy đưa cho Z và nhận 500.000đ (T chưa trả lại tiền thừa cho Z) thì bị tổ công tác thuộc lực lượng Công an huyện Thanh Hà kết hợp với Công an xã Hợp Đức phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi áo ngực bên trái Z đang mặc 02 đoạn ống nhựa đựng Hêrôin; thu giữ trên tay phải T đang cầm số tiền 500.000đ (trong đó có 200.000đ là tiền bán ma túy); thu giữ trong túi quần bên phải T đang mặc 01 đoạn ống nhựa đựng Hêrôin được hàn kín hai đầu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Văn T khai nhận cất giấu trái phép0,042gam Hêrôin, mục đích để sử dụng và bán.

Tại Kết luận giám định số 164/KLGĐ ngày 06-6-2017, Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ghi thu của Bùi Văn Z, gửi đến giám định có tổng trọng lượng là 0,029gam, là Hêrôin. Chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 20, Nghị định 82 ngày 19-7-2013 của Chính phủ. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ghi thu của Phạm Văn T, gửi đến giám định có trọng lượng là 0,013gam, là Hêrôin. Chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 20, Nghị định 82 ngày 19-7-2013 của Chính phủ. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an.

Tại Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 28-6-2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố Phạm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Xửphạt bị cáo Phạm Văn T từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03-6-2017. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ.

Về án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Phạm Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có tronghồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ ngày 03-6-2017, tại khu vực chân cầu X, địa phận thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn T cất giấu trái phép 0,042gam Hêrôin, mục đích để bán và sử dụng, khi đang bán trái phép0,029gam Hêrôin cho Bùi Văn Z với giá 200.000đ thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Hêrôin là chất ma túy bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng vẫn cố ý cất giấu trái phép để bán kiếm lời nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bịcáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Không hoàn lại mẫu vật sau giám định nên không phải xem xét xử lý. Số tiền 200.000đ là tiền bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; số tiền 300.000đ là tiền của người tự khai tên là Bùi Văn Z, không liên quan đến hành vi phạm tội, Bùi Văn Z bỏ trốn sau khi làm việc với Cơ quan điều tra, đã tiến hành xác minh tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Hải Dương nhưng không xác định được người có tên là Z như đã khai nên không xác định được chủ sở hữu của số tiền 300.000đ, do vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền này theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Đối với người bán ma túy cho T và người mua ma túy của T, do không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03-6-2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2017/HSST ngày 28/07/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:64/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Hà - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về