Bản án 64/2017/HSST ngày 25/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 64/2017/HSST NGÀY 25/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/2017/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L, sinh năm 1983.

ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: 12/12.

Con ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị T.

Vợ là Nguyễn Thị H; Có 02 con, lớn 9 tuổi và nhỏ 3 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2017 đến ngày 28/6/2017 chuyển tạm giam tại trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương đến nay “ có mặt”

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thành L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Thành L là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 08 giờ ngày 27/6/2017, L đi xe bus từ nhà lên khu vực cầu Đ thuộc địa phận xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương với mục đích mua Heroin về sử dụng. Tại đây, L gặp một người đàn ông theo L khai tên là H ở khu vực chợ B, xã Q, huyện G, L hỏi H “ Có ma túy bán không” thì H trả lời “Không có”. L nhờ H mua hộ ma túy, H đồng ý, L đưa cho H số tiền 200.000đồng, H nhận tiền và bảo L khoảng 14 giờ cùng ngày quay lại cầu Đ nhận ma túy, sau đó L đi xe bus về nhà. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L đi xe bus từ nhà sang khu vực cầu Đ để gặp H như đã hẹn. Khi gặp L, H dẫn L vào phía trong ngôi nhà ở gần khu vực chân cầu Đ, H đưa cho L 03 gói Heroin được gói bằng giấy màu trắng, L cất giấu 03 gói H vào túi quần bên trái đang mặc. Khoảng 14 giờ cùng ngày, L đi bộ ra khu vực cầu Đ để đi xe bus về nhà thì bị lực lượng Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an xã Đ, huyện G phát hiện bắt quả tang. L tự giác giao nộp 03 gói giấy màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, L khai nhận đó là Heroin cất giấu để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 227/KLGĐ ngày 28/6 /2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (Dạng cục) mầu trắng, ghi thu của Nguyễn Thành L gửi giám định có trọng lượng 0,179 gam là Heroin.

Tại bản cáo trạng số 68/VKS-HS ngày 26/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự. Nghị quyết 41/2017/QH ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự  2015; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2017.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 0,121 gam Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Về án phí : Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 14 giờ ngày 27/6/2017, tại khu vực cầu Đứ thuộc địa phận thôn A, xã Đ, huyện G,tỉnh Hải Dương. Lực lượng Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an xã Đ huyện G phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành L đang có hành vi cất giấu trái phép 03 gói Heroin có trọng lượng 0,179 gam ở trong túi quần bên trái đang mặc, Liêm khai cất giấu Heroin với mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Xác định Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời là bài học phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, xong chỉ vì do nghiện ma túy, bị cáo đi mua ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân, hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật nên việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung có hiệu quả. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, HĐXX xét thấy do khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 cao hơn so với khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, HĐXX áp dụng cho bị cáo mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,121 gam Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong lại trong 01 phong bì thư dán kín số 227/KLGĐ- PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Về nguồn gốc ma túy, L khai mua của người đàn ông tên H ở khu vực chợ B, xã Q, huyện G, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không ai có tên là H có đặc điểm như L khai nên không làm rõ được đối tượng để xử lý.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì có dấu niêm phong số 227/ KLGĐ - PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương, bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Gia Lộc và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 07/8/2017. 

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016.

Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về